Doanh nghiệp có giao dịch liên kết có thể phát sinh chi phí lãi vay không được trừ khi khoản chi phí này vượt giới hạn theo quy định. Phần chi phí không được trừ có thể được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo nếu đáp ứng điều kiện.
Từ ngày 01/07/2026, việc xác định chi phí lãi vay được trừ thực hiện theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP, áp dụng từ kỳ tính thuế TNDN năm 2026. Theo khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay được trừ không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi, lãi cho vay và chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ.
Phần chi phí lãi vay không được trừ được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo nếu đáp ứng điều kiện theo quy định. Thời gian chuyển liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.
Quy định về chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau xuất phát từ đâu?

Câu chuyện bắt đầu từ năm 2017, khi Nghị định 20/2017/NĐ-CP lần đầu tiên đặt ra ngưỡng 20% EBITDA cho chi phí lãi vay trong giao dịch liên kết. Thời điểm đó, quy định không cho phép chuyển phần vượt ngưỡng sang kỳ sau, gây ra làn sóng phản ứng mạnh mẽ từ cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là các tập đoàn có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) với mô hình tài chính tập trung.
Đến năm 2020, Nghị định 68/2020/NĐ-CP được ban hành gấp để hồi tố cho hai năm 2017 – 2018, nâng ngưỡng lên 30% và lần đầu tiên bổ sung cơ chế chuyển kỳ 5 năm. Tuy nhiên, đây chỉ là giải pháp tình thế. Cuối năm 2020, Nghị định 132/2020/NĐ-CP ra đời, thay thế toàn bộ Nghị định 20/2017 và Nghị định 68, và được bổ sung bởi Nghị định 20/2025/NĐ-CP.
Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 255/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, thay thế toàn bộ Nghị định 132/2020/NĐ-CP và Nghị định 20/2025/NĐ-CP, trở thành văn bản hiện hành điều chỉnh lĩnh vực giao dịch liên kết bao gồm toàn bộ quy định về chi phí lãi vay, áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2026.
Đối tượng áp dụng và trường hợp không áp dụng giới hạn chi phí lãi vay
Theo khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, giới hạn tổng chi phí lãi vay được trừ tại điểm a khoản này được áp dụng đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định.
Tuy nhiên, quy định tại điểm a khoản 3 Điều 16 không áp dụng đối với các khoản vay thuộc các trường hợp được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 16, gồm:
- Các khoản vay của người nộp thuế là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 96/2025/QH15;
- Các khoản vay của tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm số 08/2022/QH15, được sửa đổi, bổ sung tại Luật số 139/2025/QH15;
- Các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại;
- Các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia, gồm chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững;
- Các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước, gồm nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và dự án phúc lợi công cộng khác.
Do đó, khi xác định chi phí lãi vay được trừ, doanh nghiệp cần xác định trước khoản vay có thuộc trường hợp không áp dụng giới hạn 30% theo điểm c khoản 3 Điều 16 hay không, trước khi thực hiện tính toán phần chi phí lãi vay không được trừ.
Cách tính chi phí lãi vay không được trừ trong kỳ: Bước nền trước khi chuyển sang kỳ sau

Theo khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp có giao dịch liên kết xác định chi phí lãi vay được trừ dựa trên tỷ lệ 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ.
Có thể khái quát trình tự xác định như sau:
Bước 1: Xác định chi phí lãi vay thuần
Công thức xác định chi phí lãi vay thuần như sau:
Chi phí lãi vay thuần = Tổng chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ – (Lãi tiền gửi + Lãi cho vay phát sinh trong kỳ) |
Bước 2: Xác định EBITDA theo thuế
Cách xác định EBITDA theo thuế như sau:
EBITDA theo thuế = Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh + Chi phí lãi vay thuần + Chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ |
Ghi chú:
- Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh chưa bao gồm thu nhập khác và chi phí khấu hao khác. Doanh nghiệp có khoản thu nhập khác lớn, ví dụ lãi thanh lý tài sản, sẽ thấy EBITDA thuế thấp hơn đáng kể so với EBITDA tính từ lợi nhuận trước thuế.
Bước 3: Xác định ngưỡng 30%
Ngưỡng được trừ:
Ngưỡng được trừ = 30% x EBITDA theo thuế |
Bước 4: Chi phí lãi vay không được trừ kỳ hiện tại
Để xác định chi phí lãi vay không được trừ kỳ hiện tại:
Chi phí lãi vay không được trừ kỳ hiện tại = Chi phí lãi vay thuần – Ngưỡng được trừ |
Lưu ý: Nếu kết quả nhỏ hơn hoặc bằng 0 thì toàn bộ lãi vay được trừ và không có phần chuyển kỳ
EBITDA theo thuế không đồng nhất với EBITDA kế toán. Hai con số này có thể chênh lệch đáng kể do:
- Khấu hao theo thuế áp dụng theo Thông tư 45/2013 (khung khấu hao Nhà nước), khác với khấu hao kế toán theo IAS/IFRS hoặc chính sách nội bộ doanh nghiệp
- Các khoản điều chỉnh tăng hoặc giảm thu nhập chịu thuế (chi phí không hợp lý, thu nhập miễn thuế…) làm thay đổi lợi nhuận trước thuế theo thuế so với lợi nhuận kế toán
- Lãi vay vốn hóa vào TSCĐ đang xây dựng không tính vào chi phí lãi vay thuần nhưng phải nhất quán với cách xử lý trong toàn bộ hồ sơ.
Những sai lầm phổ biến khi xác định EBITDA theo thuế
Qua thực tế tư vấn, có ba sai lầm xuất hiện thường xuyên nhất:
- Cộng nhầm chi phí phân bổ công cụ dụng cụ vào phần khấu hao. Đây không phải khấu hao TSCĐ nên không được cộng vào EBITDA theo thuế.
- Không điều chỉnh lãi vay vốn hóa vào TSCĐ đang xây dựng, dẫn đến tính thấp chi phí lãi vay thuần
- Sử dụng trực tiếp EBITDA từ báo cáo tài chính kiểm toán mà không chạy lại theo số liệu thuế. Hai con số có thể chênh lệch rất nhiều.
- Lấy lợi nhuận trước thuế thay cho lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh.
- Chỉ trừ lãi tiền gửi, lãi cho vay ở vế chi phí lãi vay nhưng lại cộng chi phí lãi vay gộp vào EBITDA.
Chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau: Cơ chế 05 năm hoạt động như thế nào?

Cơ chế chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau được thiết kế để tránh việc doanh nghiệp bị phạt bất công trong những năm có EBITDA thấp do yếu tố chu kỳ kinh doanh. Tuy nhiên, cơ chế này đi kèm điều kiện nghiêm ngặt và giới hạn thời gian.
Nguyên tắc vận hành cơ chế chuyển kỳ như sau:
- Thời hạn tối đa 5 năm: Phần chi phí lãi vay không được trừ trong kỳ N được chuyển sang các kỳ N+1, N+2, N+3, N+4 và N+5. Hết năm thứ 5 mà chưa dùng hết là mất vĩnh viễn, không có ngoại lệ.
- Điều kiện được trừ kỳ sau: Phần chuyển sang chỉ được trừ khi chi phí lãi vay thuần phát sinh được trừ của kỳ sau thấp hơn ngưỡng 30% EBITDA của kỳ đó. Số được trừ tối đa bằng phần chênh lệch còn trống.
- Nguyên tắc FIFO: Theo dõi theo từng năm phát sinh: Thời hạn 05 năm tính riêng cho từng năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ. Nghị định không quy định thứ tự sử dụng, nhưng trên thực tế doanh nghiệp nên ưu tiên sử dụng số phát sinh sớm trước (theo nguyên tắc FIFO) để tránh số dư cũ hết hạn.
- Không hồi tố: Đã kê khai kỳ nào rồi thì không được điều chỉnh ngược lại kỳ đã đóng. Mọi xử lý chỉ có thể thực hiện tiến về phía trước.
- Vẫn phải thuộc đối tượng áp dụng: Kỳ nhận chuyển phải có phát sinh giao dịch liên kết: Điểm b chỉ cho phép chuyển khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ theo điểm a. Phép xác định này chỉ đặt ra với doanh nghiệp có giao dịch liên kết trong kỳ. Kỳ không phát sinh giao dịch liên kết thì không được đưa số chuyển của kỳ trước vào trừ, trong khi thời hạn 05 năm vẫn tiếp tục chạy liên tục.
Điều gì xảy ra khi hết hạn 5 năm mà chi phí lãi vay không được trừ chưa dùng hết?
Phần còn lại bị mất vĩnh viễn. Không có cơ chế hoàn thuế, không có điều chỉnh bổ sung, không có ngoại lệ. Đây là điểm mà nhiều doanh nghiệp bỏ qua trong kế hoạch tài chính dài hạn.
Ví dụ: Doanh nghiệp có 50 tỷ đồng chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau từ năm 2021 nhưng từ năm 2022 – 2025 EBITDA luôn thấp. Năm 2026 là năm cuối cùng của thời hạn chuyển. Nếu năm 2026 vẫn không còn dư địa, toàn bộ 50 tỷ này trở thành chi phí vĩnh viễn không được trừ, tương đương một khoản thuế TNDN thực tế phải nộp thêm lên đến 10 tỷ đồng (với thuế suất 20%).
Lưu ý quan trọng: Việc không theo dõi và hoạch định cơ chế chuyển kỳ có thể khiến doanh nghiệp chịu thuế TNDN tăng thêm mỗi năm khi đến hạn chót 5 năm mà chưa sử dụng hết số dư chuyển kỳ.
Case study thực tế về chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau
Để hiểu rõ cách chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau vận hành trong thực tế, cùng MAN – Master Accountant Network xem xét ba tình huống với mức độ phức tạp tăng dần.
Trường hợp 1: Doanh nghiệp ABC có các chỉ số sau trong kỳ tính thuế năm 2026 và các năm chuyển tương ứng 2027 – 2031 (đơn vị: tỷ đồng):
| Chỉ số | Giá trị | Ghi chú |
| Tổng chi phí lãi vay | 50 | Bao gồm cả lãi vay bên liên kết và bên độc lập |
| Thu nhập lãi vay | 5 | Lãi tiền gửi và cho vay |
| Chi phí lãi vay thuần | 45 | Tổng chi phí lãi vay – Thu nhập lại vay |
| Lợi nhuận trước thuế | 40 | Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh |
| Khấu hao TSCĐ | 15 | Theo khung Thông tư 45/2013/TT-BTC |
| EBITDA theo thuế | 100 | Lợi nhuận trước thuế + Chi phí lãi vay thuần + Khấu hao |
| Ngưỡng 30% EBITDA | 30 | 30% x 100 |
| Được trừ trong kỳ | 30 | Tối đa bằng ngưỡng |
| Không được trừ và chuyển kỳ sau | 15 | Chi phí lãi vay thuần – Ngưỡng 30% EBITDA, chuyển sang 2024 đến 2028 |
Trường hợp 2: Chuyển kỳ qua nhiều năm với EBITDA biến động
Giả sử 15 tỷ đồng từ năm 2023 được chuyển sang. EBITDA các năm sau biến động do điều kiện thị trường:
| Kỳ | Lãi vay thuần phát sinh | EBITDA theo thuế | Ngưởng 30% | Còn lại | Số chuyển được trừ | Dư chuyển tiếp |
| 2026 (gốc) | 45 | 100 | 30 | 15 | ||
| 2027 | 20 | 120 | 36 | 16 | 15 (hết) | |
| 2028 | 0 | 0 (đã hết) |
Trong ví dụ này, năm 2027 có chi phí lãi vay thuần chỉ 20 tỷ, trong khi ngưỡng 30% EBITDA là 36 tỷ, tức còn dư 16 tỷ đồng. Toàn bộ 15 tỷ chuyển kỳ được trừ hết trong năm 2024, không cần chuyển tiếp.
Trường hợp 3: Rủi ro hết hạn 05 năm
Giả sử một doanh nghiệp bất động sản có 30 tỷ đồng chi phí lãi vay không được trừ phát sinh năm 2021, theo Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Thời hạn chuyển tính liên tục từ năm 2022, nên kỳ tính thuế 2026 là kỳ cuối cùng được sử dụng, và kỳ này đã thuộc phạm vi Nghị định 255/2026/NĐ-CP. Do thị trường trầm lắng 2022 – 2025, EBITDA mỗi năm chỉ đủ để trừ chi phí lãi vay phát sinh mới. Nếu năm 2026 tiếp tục không còn dư địa, 30 tỷ đồng này bị mất, tương đương 6 tỷ đồng thuế TNDN phải nộp thêm. Với số dư phát sinh từ các kỳ trước năm 2026, doanh nghiệp cần đối chiếu điều khoản chuyển tiếp của Nghị định 255/2026/NĐ-CP và tham vấn cơ quan thuế quản lý trực tiếp..
Xem thêm: Cách tính chi phí lãi vay được trừ theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP
Kê khai chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau trên hồ sơ thuế như thế nào?
Việc kê khai đúng là điều kiện tiên quyết để được cơ quan thuế chấp nhận phần chuyển kỳ. Sai sót trong kê khai có thể dẫn đến cơ quan thuế từ chối toàn bộ quyền chuyển, dù doanh nghiệp đáp ứng đủ điều kiện về mặt số liệu.
- Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP được nộp cùng tờ khai quyết toán thuế TNDN hàng năm đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
- Phần kê khai chi phí lãi vay: Phải ghi rõ tổng chi phí lãi vay thuần, EBITDA theo thuế, ngưỡng 30%, phần được trừ và phần không được trừ trong kỳ.
- Phần chuyển kỳ: Kê khai số dư chuyển từ từng kỳ trước (theo từng năm gốc), số được trừ trong kỳ này từ mỗi năm chuyển kỳ, và số còn lại chuyển tiếp.
- Số phát sinh từng năm cần được theo dõi và kê khai riêng để đối chiếu thời hạn 05 năm: Số năm N trước phải được kê khai trừ trước năm N+1, N+2
Rủi ro nào khiến doanh nghiệp mất quyền sử dụng chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau?

Thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp nhận thức được quy định nhưng vẫn để mất quyền lợi chuyển kỳ do các rủi ro vận hành. Dưới đây là bốn rủi ro phổ biến nhất cùng cách phòng ngừa.
Theo dõi sai nguyên tắc FIFO
Khi có nhiều năm chuyển kỳ cùng tồn tại (ví dụ như chuyển từ 2021, 2022, 2023), doanh nghiệp đôi khi kê khai nhầm thứ tự dùng số của năm 2023 trước khi dùng năm 2021. Rủi ro thực tế là số dư của năm cũ hết hạn 05 năm trong khi dư địa đã bị dùng cho số dư của năm mới hơn.
EBITDA kỳ sau giảm mạnh
Trong các ngành có tính chu kỳ cao (bất động sản, xây dựng, sản xuất theo đơn hàng lớn), EBITDA có thể sụt giảm 50 – 70% trong các năm thị trường xấu. Khi đó, không chỉ không đủ điều kiện chuyển kỳ, mà ngay cả chi phí lãi vay thuần phát sinh mới trong kỳ cũng có thể vượt ngưỡng 30%, tạo thêm số dư chuyển kỳ mới, dồn áp lực về thời gian.
Tái cơ cấu làm mất điều kiện giao dịch liên kết
Khi tập đoàn tái cơ cấu, chia tách doanh nghiệp, hoặc thay đổi cơ cấu sở hữu dẫn đến doanh nghiệp không còn là bên liên kết với bất kỳ đơn vị nào trong kỳ tiếp theo, doanh nghiệp không thuộc phạm vi áp dụng khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP trong kỳ đó, nên không được đưa số chuyển của kỳ trước vào trừ. Thời hạn 05 năm không tạm dừng: kỳ không có giao dịch liên kết vẫn bị tính vào thời hạn. Vì vậy, quyết định tất toán khoản vay liên kết hoặc tái cơ cấu sở hữu cần được cân nhắc cùng số dư chuyển tiếp đang theo dõi.
Sai sót trong xác định chi phí lãi vay thuần
Lãi vay vốn hóa vào TSCĐ đang xây dựng (theo VAS 16) không được tính vào chi phí lãi vay trên báo cáo kết quả kinh doanh nhưng một số doanh nghiệp vẫn nhầm lẫn đưa vào chi phí lãi vay thuần khi tính ngưỡng 30%, dẫn đến tính thấp số được trừ và phát sinh số chuyển kỳ không thực sự cần thiết.
Để tránh những rủi ro đáng tiếc cho thể xảy ra, gây ảnh hưởng đến tài chính doanh nghiệp. Quý doanh nghiệp có thể tham khảo dịch vụ tư vấn giao dịch liên kết từ các đơn vị chuyên nghiệp, uy tín và có kinh nghiệm để được hỗ trợ đồng hành.
Kết luận và khuyến nghị
Quy định về chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau là cơ sở pháp lý quan trọng trong hệ thống chống chuyển giá tại Việt Nam. Hiểu đúng và áp dụng đúng không chỉ giúp doanh nghiệp tuân thủ nghĩa vụ thuế, mà còn bảo vệ quyền lợi tài chính hợp pháp trong dài hạn.
04 điểm then chốt cần ghi nhớ:
- Ngưỡng 30% tính trên EBITDA theo thuế, xuất phát từ lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, và chi phí lãi vay luôn là số thuần (đã trừ lãi tiền gửi, lãi cho vay).
- Phần không được trừ được chuyển sang kỳ sau trong thời hạn liên tục không quá 05 năm, và chỉ dùng được ở kỳ có phát sinh giao dịch liên kết.
- Hết 05 năm mà chưa dùng hết thì mất vĩnh viễn. Kỳ không có giao dịch liên kết vẫn bị tính vào thời hạn.
- Kê khai đúng Phụ lục kèm Nghị định 255/2026/NĐ-CP, theo dõi số dư theo từng năm phát sinh và lưu đầy đủ bảng tính EBITDA là điều kiện để quyền lợi được bảo vệ.
Để tối ưu hóa tác động của chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau, doanh nghiệp nên lập kế hoạch tài chính 5 năm ngay từ kỳ phát sinh số dư, đánh giá khả năng hấp thụ EBITDA tương lai và xem xét điều chỉnh cơ cấu vốn hoặc thời điểm đầu tư để tối đa hóa room trong các kỳ sau.
Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí!
Thông tin liên hệ MAN – Master Accountant Network
- Địa chỉ: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- Email: man@man.net.vn
- Google Business Profile: Xem Google Business Profile của MAN – Master Accountant Network
- LinkedIn Founder: Xem hồ sơ LinkedIn của chuyên gia Lê Hoàng Tuyên
Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network. Ông là Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm sâu sắc trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Pháp lý doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp về chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau
Chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau có áp dụng cho chi nhánh không?
Chi nhánh hạch toán phụ thuộc thực hiện kê khai thuế TNDN chung với trụ sở chính, do đó số liệu chi phí lãi vay thuần và EBITDA được tổng hợp ở cấp pháp nhân (trụ sở chính). Chi nhánh hạch toán độc lập có mã số thuế riêng thì kê khai độc lập và áp dụng riêng quy định về chi phí lãi vay không được trừ chuyển sang kỳ sau theo phạm vi pháp nhân đó.
Nếu doanh nghiệp giải thể trước khi hết 5 năm, số dư chuyển kỳ xử lý thế nào?
Khi doanh nghiệp giải thể, toàn bộ quyết toán thuế được thực hiện tại kỳ giải thể. Phần dư chuyển kỳ chưa sử dụng hết sẽ không được trừ tương tự như hết hạn 05 năm. Hiện nay chưa có quy định cho phép kế thừa số dư chuyển kỳ trong trường hợp sáp nhập hoặc hợp nhất, do đó cần thận trọng khi lên kế hoạch M&A có liên quan đến các đơn vị đang mang số dư này.
Chi phí lãi vay chuyển kỳ có cần kê khai riêng hay gộp chung?
Phải kê khai riêng theo từng năm gốc phát sinh trên Phụ lục 02/TNDN. Không được gộp tất cả số chuyển kỳ vào một dòng vì cơ quan thuế cần đối chiếu thời hạn 5 năm của từng lô số dư.
Doanh nghiệp ký thỏa thuận APA có bị ảnh hưởng bởi quy định này không?
Điểm c khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP không liệt kê doanh nghiệp có APA trong các trường hợp không áp dụng ngưỡng 30%. Vì vậy doanh nghiệp không nên mặc định có APA là được miễn trừ, mà cần đối chiếu phạm vi giao dịch trong APA đã ký và tham vấn cơ quan thuế.
Nghị định 255/2026/NĐ-CP có thay đổi ngưỡng 30% và thời hạn chuyển 05 năm không?
Không. Nghị định 255/2026/NĐ-CP giữ nguyên ngưỡng 30% và thời hạn chuyển tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ. Nghị định có hiệu lực từ 01/7/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế TNDN năm 2026.




