Ngày 05/11/2020, Nghị định 132 giao dịch liên kết chính thức được ban hành và có hiệu lực từ 20/12/2020, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết tại Việt Nam. Nghị định nổi bật với các điểm đáng chú ý như mở rộng phạm vi các bên liên kết, cập nhật phương pháp xác định giá giao dịch liên kết dựa trên nguyên tắc giao dịch độc lập, điều chỉnh ngưỡng khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132 và bổ sung thêm trường hợp miễn lập hồ sơ giao dịch liên kết. Việc tuân thủ Nghị định 132 giao dịch liên kết giúp doanh nghiệp tối ưu hóa lợi ích thuế, giảm rủi ro pháp lý, đồng thời nâng cao minh bạch trong quản lý tài chính.
Những điểm nổi bật Nghị định 132 giao dịch liên kết

Trong số những điểm nổi bật của Nghị định 132 giao dịch liên kết chính là những thay đổi quan trọng và nhận được nhiều quan tâm nhất là quy định về các bên có quan hệ liên kết. Những quy định này không chỉ mở rộng phạm vi xác định bên liên kết mà còn chi tiết hóa cách thức nhận diện mối quan hệ kiểm soát, điều hành giữa các doanh nghiệp, từ đó tạo cơ sở pháp lý minh bạch và công bằng trong việc quản lý thuế đối với các giao dịch liên kết.
Quy định các bên có mối quan hệ liên kết theo Nghị định 132 giao dịch liên kết
Trước đây tại Nghị định 20/2017/NĐ-CP chỉ quy định phạm vi các giao dịch có mối quan hệ liên kết là các giao dịch trong hoạt động kinh doanh thì giờ đây tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP mở rộng phạm vị giao dịch liên kết gồm:
- Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa.
- Cung cấp dịch vụ giữa các bên có quan hệ liên kết.
- Vay, cho vay, cung cấp dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính.
- Các công cụ tài chính khác được sử dụng giữa các bên liên kết.
- Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình và tài sản vô hình.
- Thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động.
- Chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết.
Sau khi xác định rõ các loại giao dịch thuộc phạm vi các bên liên kết, Nghị định 132 giao dịch liên kết còn bổ sung thêm nhiều trường hợp cụ thể của các bên có quan hệ liên kết. Những bổ sung này giúp mở rộng phạm vi áp dụng, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng và minh bạch cho việc quản lý thuế và xác định giá giao dịch giữa các bên liên kết.
Nghị định 132 giao dịch liên kết bổ sung thêm trường hợp với các bên liên kết
Ở Nghị định 20/2017/NĐ-CP chỉ đề cập tới 10 trường hợp có mối quan hệ liên kết thì Nghị định 132 giao dịch liên kết bổ sung thêm 01 trường hợp, cụ thể đó là:
- Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc trong một các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 5 của Nghị định 132 giao dịch liên kết.
Nghị định 132 giao dịch liên kết tiếp tục đưa ra các quy định về chi phí lãi vay nhằm đảm bảo tính minh bạch và công bằng trong việc xác định lợi nhuận chịu thuế. Những quy định này không chỉ giới hạn chi phí lãi vay liên quan đến các giao dịch liên kết mà còn hướng dẫn cách xử lý phần chi phí vượt ngưỡng khống chế, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa lợi ích thuế và giảm rủi ro pháp lý.
Tham khảo: Giám đốc cho công ty mượn tiền không lấy lãi có bị ấn định thuế TNCN không?
Nghị định 132 giao dịch liên kết quy định về chi phí lãi vay
Nghị định 132 giao dịch liên kết đã có những điều chỉnh quan trọng liên quan đến chi phí lãi vay, nhằm đảm bảo tính minh bạch, công bằng và phù hợp với thông lệ quốc tế trong quản lý thuế. Cụ thể:
- Nâng cao mức khống chế chi phí lãi vay từ 20% lên 30%: Trước đây Nghị định 20/2017/NĐ-CP, doanh nghiệp chỉ được khấu trừ chi phí lãi vay tối đa bằng 20% EBITDA, nhưng Nghị định 132 giao dịch liên kết đã nâng tỷ lệ này lên 30%, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp trong việc cân đối tài chính, đồng thời vẫn duy trì giới hạn để tránh việc lạm dụng chi phí lãi vay nhằm giảm nghĩa vụ thuế.
- Cho phép khấu trừ chi phí lãi vay sau khi đã trừ lãi tiền gửi, tiền vay: Doanh nghiệp khi tính chi phí lãi vay được phép tính toán dựa trên phần lãi vay thực tế sau khi đã trừ đi lãi tiền gửi hoặc lãi từ các khoản vay khác. Quy định này giúp phản ánh chính xác chi phí tài chính thực sự phát sinh từ các giao dịch liên kết, nâng cao tính minh bạch và khả năng tuân thủ pháp luật thuế.
- Chuyển tiếp chi phí lãi vay vượt ngưỡng khống chế sang các năm tính thuế tiếp theo: Nếu chi phí lãi vay vượt quá mức khống chế 30%, phần vượt này không bị loại bỏ mà được chuyển tiếp sang các năm tính thuế tiếp theo, giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí lãi vay theo thời gian, đồng thời đảm bảo tuân thủ các quy định của Nghị định 132 giao dịch liên kết.
Những quy định này thể hiện nỗ lực của cơ quan quản lý thuế trong việc cân bằng giữa quyền lợi của doanh nghiệp và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật, đồng thời tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch cho các giao dịch liên kết.
Nghị định 132 giao dịch liên kết bổ sung đối tượng không áp dụng ngưỡng khống chế chi phí lãi vay

Để làm rõ sự khác biệt giữa Nghị định 132 giao dịch liên kết và Nghị định 20/2017 trước đây, đặc biệt về các khoản vay được công nhận trong phạm vi giao dịch liên kết, bảng dưới đây tổng hợp những điểm bổ sung quan trọng. Những thay đổi này không chỉ mở rộng phạm vi các khoản vay hợp pháp mà còn tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, minh bạch cho việc quản lý thuế đối với các doanh nghiệp tham gia các chương trình vay vốn phát triển, chương trình mục tiêu quốc gia và các dự án phúc lợi xã hội.
| Nghị định 20/2017 | Nghị định 132/2020/NĐ-CP |
Không quy định đối tượng đã nêu. | Các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại. Các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới, giảm nghèo bền vững). Các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và các dự án phúc lợi công cộng khác). |
Qua bảng so sánh trên, có thể thấy Nghị định 132 giao dịch liên kết đã mở rộng phạm vi các khoản vay được công nhận so với Nghị định 20 trước đây. Những bổ sung này không chỉ giúp doanh nghiệp tham gia các chương trình vay vốn phát triển, chương trình mục tiêu quốc gia hay các dự án phúc lợi xã hội được tính vào giao dịch liên kết một cách hợp pháp mà còn tăng tính minh bạch, công bằng trong quản lý thuế.
Vì sao xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA là bài toán nóng của kỳ quyết toán 2026?
Xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA là việc xác định phần chi phí lãi vay thuần (chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ) vượt quá 30% EBITDA thuế, loại phần vượt đó ra khỏi chi phí được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp, đồng thời theo dõi để chuyển sang các kỳ tính thuế tiếp theo trong thời hạn không quá 05 năm.
Nghị định 255/2026/NĐ-CP thay thế khung pháp lý cũ từ 01/7/2026
Nghị định 255/2026/NĐ-CP về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết được Chính phủ ban hành ngày 30/6/2026, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2026. Nghị định này thay thế Nghị định 132/2020/NĐ-CP và Nghị định 20/2025/NĐ-CP.
Điểm cần nhấn mạnh: Ngưỡng khống chế 30% EBITDA không thay đổi. Nhưng bối cảnh xung quan thì thay đổi đáng kể, cách nhận diện quan hệ liên kết được làm rõ thêm (bao gồm cả quan hệ phát sinh từ mượn, cho mượn), ngưỡng miễn lập hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết được nâng lên, thứ tự ưu tiên nguồn cơ sở dữ liệu so sánh được quy định rõ, và ngưỡng nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia chuyển sang chuẩn 750 triệu EUR theo thông lệ OECD.
Hệ quả tài chính khi doanh nghiệp bỏ qua ngưỡng 30% EBITDA
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp bị truy thu. Phần chi phí lãi vay vượt ngưỡng bị loại làm tăng thu nhập tính thuế. Với thuế suất phổ thông, mỗi 10 tỷ đồng chi phí bị loại tương ứng khoảng 2 tỷ đồng thuế phát sinh thêm.
Thứ hai, tiền chậm nộp cộng dồn. Khoản truy thu được tính lãi chậm nộp từ thời điểm đáng lẽ phải nộp, nghĩa là sai sót của kỳ 2026 nếu bị phát hiện năm 2029 sẽ đội chi phí lên đáng kể.
Thứ ba, mất quyền chuyển tiếp. Đây là thiệt hại âm thầm nhưng lớn nhất. Nếu doanh nghiệp không theo dõi phần vượt ngưỡng trên sổ sách và thuyết minh, việc chứng minh quyền chuyển tiếp ở các kỳ sau gần như bất khả thi.
Vượt ngưỡng 30% EBITDA thì bị xử lý thế nào? Truy thu bao nhiêu?
Số thuế thu nhập doanh nghiệp (khoản gốc) truy thu, đây không phải là một khoản phạt mà là số thuế đáng lẽ đã phải nộp nhưng chưa nộp, do phần chi phí lãi vay vượt ngưỡng bị loại khỏi chi phí được trừ làm tăng thu nhập chịu thuế.
Khi đó, số thuế truy thu được xác định:
Số thuế truy thu = Phần chi phí lãi vay bị loại (chưa kê khai) x Thuế suất TNDN áp dụng |
Ví dụ: Công ty A có 10 tỷ đồng chi phí lãi vay vượt ngưỡng nhưng lỡ hạch toán vào chi phí được trừ khi kê khai ban đầu, khi đó số thuế truy thu = 10 tỷ × 20% = 2 tỷ đồng.
Tiền chậm nộp tính theo ngày
Song song với số thuế truy thu, doanh nghiệp phải nộp tiền chậm nộp theo mức 0.03%/ngày tính trên số tiền thuế chậm nộp, theo Điều 15 Luật Quản lý thuế.
Khoản này tính liên tục từ ngày hết hạn nộp thuế của kỳ phát sinh sai sót đến ngày thực nộp, càng phát hiện muộn thì khoản này càng lớn. Với ví dụ nếu như sai sót của kỳ 2021 bị phát hiện vào năm 2026 (khoảng 1000 ngày), riêng tiền chậm nộp phải đóng:
Số tiền chậm nộp = 2 tỷ đồng x 0.03% x 1000 = 600 triệu đồng |
Phạt vi phạm hành chính về khai sai thuế
Nếu việc kê khai sai (không loại đúng phần chi phí vượt ngưỡng) bị xác định là hành vi khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp, doanh nghiệp còn bị phạt theo Điều 16 Nghị định 125/2020/NĐ-CP (sửa đổi bởi Nghị định 310/2025/NĐ-CP) với mức 20% số tiền thuế khai thiếu, kèm biện pháp khắc phục là buộc nộp đủ số thuế thiếu và tiền chậm nộp.
Lưu ý: Mức phạt 20% vẫn áp dụng ngay cả khi doanh nghiệp đã lập hồ sơ xác định giá thị trường hoặc gửi đầy đủ phụ lục giao dịch liên kết nhưng số liệu vẫn bị cơ quan thuế xác định là thiếu thuế qua thanh tra. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp tự phát hiện và khai bổ sung, nộp đủ trước khi có quyết định thanh tra/kiểm tra, đây vẫn nằm trong khung phạt nhẹ nhất.
Căn cứ pháp lý của việc xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA
Toàn bộ nội dung xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA nằm tại khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP điều khoản về xác định chi phí để tính thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Kế toán trưởng cần thuộc ba điểm a, b, c của khoản này.
Theo Điểm a Khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP:
Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế.
Điểm b Khoản 3 Điều 16 quy định quyền chuyển tiếp không quá 05 năm:
Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a khoản này được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định tại điểm a khoản này. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ.
Điểm c Khoản 3 Điều 16 quy định về các trường hợp không áp dụng:
Quy định khống chế tại điểm a không áp dụng với các khoản vay của người nộp thuế là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng; tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm; các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia; các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước.
Lưu ý quan trọng: Đây là ngoại lệ theo chủ thể và theo nguồn vốn, không phải ngoại lệ theo ý chí doanh nghiệp. Một doanh nghiệp thương mại vay vốn ngân hàng vẫn thuộc diện phải xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA nếu khoản vay đó làm phát sinh quan hệ liên kết theo Điều 5.
Ngưỡng 30% EBITDA chỉ đặt ra với doanh nghiệp có quan hệ liên kết và có phát sinh giao dịch liên kết trong kỳ. Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP bổ sung trường hợp quan hệ liên kết:
Quan hệ phát sinh từ giao dịch vay, cho vay, mượn, cho mượn với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc cá nhân có quan hệ thân nhân theo quy định, với ngưỡng vốn góp tương ứng.
Nghị định 255/2026/NĐ-CP ghi nhận ngoại lệ quan trọng: Tổ chức tín dụng, tổ chức khác cho vay nhưng không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp đi vay hoặc doanh nghiệp bảo lãnh thì không vì riêng khoản vay đó mà bị xác định là bên liên kết. Đây là điểm giải tỏa lớn cho khối doanh nghiệp vay ngân hàng thuần túy nhưng cần hồ sơ chứng minh, không phải mặc định.
Ba cấu phần trước khi xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA
Công thức chuẩn để xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA có thể viết gọn như sau:
Chi phí lãi vay thuần = Chi phí lãi vay phát sinh trong kỳ – (Lãi tiền gửi + Lãi cho vay phát sinh trong kỳ) |
EBITDA thuế được xác định:
EBITDA thuế = Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh + Chi phí lãi vay thuần + Chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ |
Ngưỡng được trừ:
Ngưỡng được trừ = 30% x EBITDA thuế |
Phần vượt bị loại được xác định:
Phần vượt bị loại = Chi phí lãi vay thuần – Ngưỡng được trừ (nếu kết quả dương) |
Lãi tiền gửi và lãi cho vay được bù trừ như thế nào?
Đây là khâu dễ sai nhất. Cần lưu ý ba nguyên tắc:
- Chỉ bù trừ khoản phát sinh trong kỳ: Lãi dự thu của kỳ trước hoặc lãi nhận trước cho kỳ sau phải được điều chỉnh về đúng kỳ;
- Lãi tiền gửi ngân hàng và lãi từ hoạt động cho vay được bù trừ. Các khoản khác nằm trong doanh thu hoạt động tài chính như lãi chênh lệch tỷ giá, cổ tức, lãi bán ngoại tệ, chiết khấu thanh toán được hưởng không thuộc phạm vi bù trừ;
- Nếu lãi tiền gửi và lãi cho vay lớn hơn chi phí lãi vay, chi phí lãi vay thuần âm, khi đó không phát sinh nghĩa vụ xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA, nhưng doanh nghiệp vẫn phải kê khai đầy đủ.
Quy định về lập và nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR)

Trong nội dung quy định về lập và nộp báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR), Nghị định 132/2020/NĐ-CP cũng đưa ra yêu cầu cụ thể đối với trường hợp công ty mẹ tối cao đặt tại Việt Nam và công ty mẹ tối cao đặt tại nước ngoài, nhằm đảm bảo việc minh bạch hóa thông tin thuế và lợi nhuận. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cũng cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kê khai theo các mẫu biểu quy định để tránh các rủi ro về thuế. Việc nắm rõ cách kê khai giao dịch liên kết sẽ giúp doanh nghiệp chủ động chuẩn bị hồ sơ và đáp ứng yêu cầu của cơ quan thuế khi cần thiết.
Công ty mẹ tối cao đặt tại Việt Nam
Theo Nghị định 132 giao dịch liên kết, trường hợp công ty mẹ tối cao đặt tại Việt Nam có doanh thu hợp nhất toàn cầu trong kỳ tính thuế từ 18.000 tỷ đồng thì có nghĩa vụ lập Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR) và nộp cho cơ quan thuế trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày kết thúc năm tài chính.
Công ty mẹ tối cao tại nước ngoài
Nghị định 132 giao dịch liên kết, nghĩa vụ nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR) đối với trường hợp công ty mẹ tối cao đặt tại nước ngoài được quy định khá chi tiết. Bảng dưới đây sẽ tổng hợp rõ các trường hợp không bắt buộc nộp và bắt buộc nộp để doanh nghiệp dễ dàng đối chiếu và tuân thủ.
| Trường hợp | Nghị định 132/2020/NĐ-CP |
| Không bắt buộc nộp | Doanh nghiệp tại Việt Nam không phải nộp CbCR nếu cơ quan thuế Việt Nam có thể nhận được báo cáo thông qua cơ chế trao đổi thông tin tự động (AEOI) với quốc gia hoặc vùng lãnh thổ nơi công ty mẹ tối cao cư trú. |
| Bắt buộc nộp | Quốc gia/vùng lãnh thổ nơi công ty mẹ tối cao cư trú có Thỏa thuận quốc tế về thuế với Việt Nam nhưng chưa có Thỏa thuận của Nhà chức trách có thẩm quyền tại thời điểm đến hạn nộp báo cáo. Quốc gia/vùng lãnh thổ nơi công ty mẹ tối cao cư trú có Thỏa thuận giữa Nhà chức trách có thẩm quyền với Việt Nam nhưng đã đình chỉ cơ chế trao đổi thông tin hoặc không thể tự động cung cấp cho Việt Nam. Trường hợp tập đoàn nước ngoài có nhiều hơn một công ty con tại Việt Nam, công ty mẹ tối cao phải thông báo bằng văn bản cho cơ quan thuế Việt Nam về công ty con được chỉ định thay mặt tập đoàn nộp CbCR. |
Qua bảng trên có thể thấy, Nghị định 132 giao dịch liên kết đã quy định rất cụ thể nghĩa vụ nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR) trong trường hợp công ty mẹ tối cao ở nước ngoài. Việc phân định rõ khi nào doanh nghiệp tại Việt Nam không bắt buộc nộp và khi nào phải nộp giúp đảm bảo tính minh bạch, đồng bộ với chuẩn mực quốc tế và hạn chế tình trạng trốn tránh nghĩa vụ thuế. Doanh nghiệp cần nắm chắc các quy định này để tránh rủi ro bị xử phạt và chủ động xây dựng chiến lược tuân thủ hiệu quả.
Cập nhật Nghị định 255/2026/NĐ-CP về Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia
Nghị định 255/2026/NĐ-CP kế thừa và thay thế Nghị định 132/2020/NĐ-CP, cụ thể Nghị định 255 thay đổi những gì so với quy định cũ, cùng MAN – Master Accountant Network theo dõi bảng sau đây:
| Nội dung | Nghị định 132 | Nghị định 255 |
| Ngưỡng doanh thu hợp nhất | Từ 18.000 tỷ đồng trở lên | 750 triệu EUR, quy đổi theo tỷ giá do Ngân hàng Nhà nước công bố |
| Kỳ xác định | Doanh thu trong kỳ tính thuế | Năm tài chính liền kề trước năm báo cáo |
| Thời gian nộp | Nộp hàng năm | Nộp 01 lần, cập nhật trong 90 ngày khi có thay đổi |
| Hình thức | Chưa có quy định cụ thể | File XML |
| Điều kiện nộp tại Việt Nam | Chưa có | Doanh nghiệp tại Việt Nam phải đáp ứng điều kiện bảo mật, nhất quán và sử dụng đúng mục đích, công khai |
| Khác biệt ngưỡng giữa các quốc gia | Chưa có | Được ghi nhận trường hợp không phải nộp |
Lưu ý: Kể từ ngày 01/7/2026 Nghị định 255/2026/NĐ-CP chính thức có hiệu lực, người nộp thuế chỉ phải nộp Thông báo 01 lần khi lần đầu phát sinh nghĩa vụ, thời hạn chậm nhất là ngày kết thúc năm tài chính của Công ty mẹ tối cao của năm báo cáo. Khi có thay đổi thông tin tại Thông báo đã nộp gần nhất bao gồm cả trường hợp chấm dứt nghĩa vụ, doanh nghiệp nộp Thông báo cập nhật chậm nhất 90 ngày kể từ ngày phát sinh thay đổi.
Kết luận
Nhìn chung, Nghị định 255 giao dịch liên kết đã mang đến nhiều thay đổi quan trọng so với Nghị định 132 trước đây, từ việc mở rộng định nghĩa giao dịch liên kết, các bên liên kết, điều kiện miễn trừ lập hồ sơ, cho đến bổ sung các khoản vay đặc thù và quy định chặt chẽ về nghĩa vụ nộp Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR). Những điểm mới này không chỉ giúp hệ thống pháp luật Việt Nam tiệm cận với chuẩn mực quốc tế, mà còn nâng cao tính minh bạch, hạn chế hành vi chuyển giá và bảo đảm sự công bằng giữa các doanh nghiệp.
Tuy nhiên, đi kèm với đó là yêu cầu tuân thủ khắt khe hơn. Chính vì vậy, doanh nghiệp cần chuẩn bị hồ sơ đầy đủ, minh chứng rõ ràng và chiến lược quản trị thuế hiệu quả để tránh rủi ro bị ấn định thuế hay xử phạt. Đối với những doanh nghiệp chưa có kinh nghiệm kê khai giao dịch liên kết, cách tính EBITDA hoặc cần rà soát rủi ro thuế chuyên sâu, việc tham khảo dịch vụ tư vấn giao dịch liên kết sẽ giúp đảm bảo tuân thủ đúng quy định, tối ưu nguồn lực và hạn chế các sai sót trong quá trình thanh tra, kiểm tra thuế.
Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí!
Thông tin liên hệ MAN – Master Accountant Network
- Địa chỉ: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- Email: man@man.net.vn
- Google Business Profile: Xem Google Business Profile của MAN – Master Accountant Network
- LinkedIn Founder: Xem hồ sơ LinkedIn của chuyên gia Lê Hoàng Tuyên
Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network. Ông là Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm sâu sắc trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Pháp lý doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp (FAQs)
Doanh nghiệp không có giao dịch liên kết có phải xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA không?
Không. Quy định khống chế tại điểm a khoản 3 Điều 16 chỉ áp dụng với người nộp thuế có quan hệ liên kết và phát sinh giao dịch liên kết trong kỳ.
Phần chi phí lãi vay vượt ngưỡng có mất vĩnh viễn không?
Không. Theo điểm b khoản 3 Điều 16, phần không được trừ được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi tổng chi phí lãi vay được trừ của kỳ đó thấp hơn ngưỡng, thời gian chuyển tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh.
Lãi chênh lệch tỷ giá có được trừ khi tính chi phí lãi vay thuần không?
Không. Chỉ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ được bù trừ theo đúng điểm a khoản 3 Điều 16.
Vay ngân hàng thương mại có làm phát sinh nghĩa vụ xử lý tiền gửi lãi vay vượt ngưỡng 30% EBITDA không?
Tùy trường hợp. Nếu tổ chức tín dụng cho vay không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp đi vay hoặc doanh nghiệp bảo lãnh thì riêng khoản vay đó không làm phát sinh quan hệ liên kết. Ngược lại, khi khoản vay đạt đồng thời ngưỡng 25% vốn góp của chủ sở hữu và trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn trong bối cảnh có yếu tố liên kết khác, doanh nghiệp thuộc phạm vi áp dụng.
Kỳ tính thuế không phát sinh giao dịch liên kết thì có được chuyển chi phí lãi vay không được trừ của kỳ trước sang không?
Không. Việc chuyển tiếp theo điểm b khoản 3 Điều 16 chỉ được thực hiện khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ theo điểm a, mà phép xác định này chỉ đặt ra với người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết trong kỳ. Kỳ nào không phát sinh giao dịch liên kết thì doanh nghiệp không thuộc phạm vi áp dụng, không được đưa số treo của kỳ trước vào trừ, trong khi thời hạn 05 năm vẫn tiếp tục chạy liên tục.




