Khống chế chi phí lãi vay là quy định giới hạn mức chi phí lãi vay được trừ khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp (TNDN) đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay chỉ được trừ tối đa 30% EBITDA. Quy định này trước đây nằm tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Từ ngày 01/7/2026, nó được quy định tại Nghị định 255/2026/NĐ-CP và áp dụng ngay từ kỳ tính thuế TNDN năm 2026.
Ngưỡng 30% EBITDA không thay đổi. Tuy nhiên, cách xác định quan hệ liên kết qua khoản vay đã được điều chỉnh, và các khoản vay ngân hàng độc lập đã chính thức được loại trừ. Doanh nghiệp cần nắm đúng các điểm này để quyết toán thuế chính xác, tránh bị loại chi phí khi thanh tra.
Khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132 là gì?
Khống chế chi phí lãi vay là quy định pháp luật giới hạn phần chi phí lãi vay được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN của doanh nghiệp có giao dịch liên kết.
Nói ngắn gọn, chi phí lãi vay thuần (chi phí lãi vay trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay) chỉ được trừ tối đa 30% EBITDA. Trong quy định này, EBITDA được xác định bằng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh cộng chi phí lãi vay thuần cộng chi phí khấu hao trong kỳ.
Mục tiêu của quy định là ngăn doanh nghiệp tăng vay vốn nội bộ để chuyển lợi nhuận và làm giảm thu nhập chịu thuế, bảo đảm nghĩa vụ thuế tương ứng với giá trị thực của hoạt động kinh doanh.
Lưu ý về hiệu lực: Nghị định 255/2026/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 30/6/2026, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế TNDN năm 2026. Theo Điều 23, Nghị định 132/2020/NĐ-CP và Nghị định 20/2025/NĐ-CP hết hiệu lực kể từ ngày Nghị định 255 có hiệu lực.
Quy định khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132

Điểm a khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP quy định tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết như sau:
Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế.
Điều này có nghĩa là chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN không vượt quá 30% của tổng EBITDA (Lợi nhuận trước lãi vay, thuế, khấu hao và khấu trừ) của doanh nghiệp.
Nội dung này kế thừa nguyên vẹn quy định tại khoản 3 Điều 16 Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Khi áp dụng, doanh nghiệp cần lưu ý 02 điểm:
- Cụm “sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay” xuất hiện ở cả phần chi phí bị khống chế và phần cộng vào EBITDA.
- Chỉ tiêu gốc là lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh, không phải lợi nhuận trước thuế.
Mức khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132 tối đa được trừ khi tính thuế TNDN là bao nhiêu?

Khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132 được áp dụng để giới hạn mức chi phí được trừ khi tính thuế TNDN. Cụ thể, doanh nghiệp chỉ được trừ tối đa chi phí lãi vay trong phạm vi 30% EBITDA. Phần chi phí vượt quá tỷ lệ này sẽ bị loại và không được tính vào chi phí hợp lệ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN trong kỳ.
Từ bất cập của Nghị định 132 đến quy định loại trừ tại Nghị định 255
Điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP ban đầu xác định quan hệ liên kết khi một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho vay với khoản vốn vay ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu bên đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của bên đi vay.
Quy định này vô tình bao trùm cả ngân hàng và tổ chức tín dụng độc lập, vốn không có quan hệ sở hữu, điều hành hay kiểm soát với doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp dự án vay vốn ngân hàng lớn, vì thế bị xác định là có giao dịch liên kết và bị khống chế chi phí lãi vay. Trong khi đó, về bản chất đây chỉ là hoạt động cấp tín dụng thông thường giữa các bên độc lập.
Quy định hiện hành tại điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP
Bất cập này đã được tháo gỡ, và Nghị định 255/2026/NĐ-CP tiếp tục quy định như sau:
Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) với điều kiện tổng dư nợ các khoản vốn vay của doanh nghiệp đi vay với doanh nghiệp cho vay hoặc bảo lãnh ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng dư nợ tất cả các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.
Quy định tại điểm d nêu trên không áp dụng với các trường hợp sau:
- Bên bảo lãnh hoặc cho vay là các tổ chức kinh tế hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp đi vay hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh theo quy định tại các điểm a, c, đ, e, g, h, k, l và điểm m khoản này;
- Bên bảo lãnh hoặc cho vay là các tổ chức kinh tế hoạt động theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và doanh nghiệp đi vay hoặc được bảo lãnh không trực tiếp, gián tiếp cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư của một bên khác theo quy định tại các điểm b, e và điểm i khoản này;
- Chủ nợ, bên bảo lãnh là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ có chức năng mua, bán, xử lý nợ không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp bên nợ hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này.
So với Nghị định 132 trước đây, doanh nghiệp cần lưu ý 03 điểm:
- Ngưỡng 25% và 50% nay tính trên tổng dư nợ các khoản vay giữa bên đi vay và bên cho vay hoặc bảo lãnh, so với tổng dư nợ tất cả các khoản nợ trung và dài hạn của bên đi vay.
- Ngoại lệ dành cho tổ chức tín dụng là ngoại lệ có điều kiện. Doanh nghiệp cần lưu giữ bằng chứng cho thấy bên cho vay không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư, chứ không được mặc định mọi khoản vay ngân hàng đều nằm ngoài phạm vi.
- Danh sách loại trừ có thêm trường hợp tổ chức mua, bán, xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.
Hướng dẫn xác định chi phí lãi vay được trừ và không được trừ theo cơ chế khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132

Để hiểu rõ cách áp dụng khống chế chi phí lãi vay giao dịch liên kết, Nghị định 132/2020/NĐ-CP đã quy định chi tiết về mức chi phí lãi vay được trừ. Theo khoản 3 Điều 16 về tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Cụ thể, các quy định này được trình bày như sau:
Chi phí lãi vay được trừ khi tính thuế TNDN đối với doanh nghiệp phát sinh giao dịch liên kết
Khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP về tổng chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế TNDN đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết. Cụ thể, các quy định này được trình bày như sau:
Tổng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ của người nộp thuế được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp không vượt quá 30% của tổng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay phát sinh trong kỳ cộng chi phí khấu hao phát sinh trong kỳ của người nộp thuế;
Phần chi phí lãi vay không được trừ theo quy định tại điểm a khoản này được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi xác định tổng chi phí lãi vay được trừ trong trường hợp tổng chi phí lãi vay phát sinh được trừ của kỳ tính thuế tiếp theo thấp hơn mức quy định tại điểm a khoản này. Thời gian chuyển chi phí lãi vay tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh chi phí lãi vay không được trừ;
Quy định tại điểm a khoản này không áp dụng với các khoản vay của người nộp thuế là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng (được sửa đổi, bổ sung năm 2025); tổ chức kinh doanh bảo hiểm theo Luật Kinh doanh bảo hiểm (được sửa đổi, bổ sung năm 2025); các khoản vay vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), vay ưu đãi của Chính phủ thực hiện theo phương thức Chính phủ đi vay nước ngoài cho các doanh nghiệp vay lại; các khoản vay thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia (chương trình nông thôn mới và giảm nghèo bền vững); các khoản vay đầu tư chương trình, dự án thực hiện chính sách phúc lợi xã hội của Nhà nước (nhà ở tái định cư, nhà ở công nhân, sinh viên, nhà ở xã hội và dự án phúc lợi công cộng khác);
Người nộp thuế kê khai tỷ lệ chi phí lãi vay trong kỳ tính thuế theo Phụ lục I ban hành kèm theo Nghị định này.
Doanh nghiệp cần lưu ý: Số chi phí lãi vay chưa được trừ chỉ được chuyển vào kỳ mà chi phí lãi vay được trừ thấp hơn ngưỡng 30% EBITDA và thời hạn 05 năm được tính liên tục, không tạm dừng kể cả những năm doanh nghiệp không sử dụng được.
Quy định chuyển tiếp: Theo Điều 23 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, trường hợp doanh nghiệp thuộc đối tượng được chuyển tiếp theo Điều 3 Nghị định 20/2025/NĐ-CP thì tiếp tục được chuyển tiếp cho thời gian còn lại theo quy định tại Điều 3 Nghị định 20/2025/NĐ-CP. Nhóm này chủ yếu là doanh nghiệp giai đoạn 2020–2023 chỉ có quan hệ liên kết với tổ chức tín dụng và còn chi phí lãi vay chưa chuyển hết.
Xem chi tiết: Cách tính chi phí lãi vay được trừ theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP.
Chi phí lãi vay không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
Bên cạnh ngưỡng 30% EBITDA dành riêng cho doanh nghiệp có giao dịch liên kết, mọi doanh nghiệp còn phải tuân thủ quy định chung về chi phí lãi vay không được trừ. Các quy định này nay được hướng dẫn tại Điều 10 Nghị định 320/2025/NĐ-CP (hướng dẫn Luật Thuế TNDN 2025):
- Phần chi phí trả lãi tiền vay vốn sản xuất kinh doanh của đối tượng không phải là tổ chức tín dụng hoặc tổ chức kinh tế vượt quá 150% mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay.
- Chi trả lãi tiền vay tương ứng với phần vốn điều lệ (đối với doanh nghiệp tư nhân là vốn đầu tư) đã đăng ký còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp kể cả trường hợp doanh nghiệp đã đi vào sản xuất kinh doanh. Chi trả lãi tiền vay trong quá trình đầu tư đã được ghi nhận vào giá trị của tài sản, giá trị công trình đầu tư.
Trường hợp doanh nghiệp đã góp đủ vốn điều lệ, trong quá trình kinh doanh có khoản chi trả lãi tiền vay để đầu tư vào doanh nghiệp khác thì khoản chi này được tính vào chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Chi trả lãi tiền vay tương ứng với vốn điều lệ còn thiếu theo tiến độ góp vốn ghi trong điều lệ của doanh nghiệp không được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế được xác định như sau:
- Trường hợp số tiền vay nhỏ hơn hoặc bằng số vốn điều lệ còn thiếu thì toàn bộ lãi tiền vay là khoản chi không được trừ.
- Trường hợp số tiền vay lớn hơn số vốn điều lệ còn thiếu theo tiến độ góp vốn.
Việc nắm rõ cách xác định chi phí lãi vay được trừ và không được trừ giúp doanh nghiệp tuân thủ quy định, tối ưu nghĩa vụ thuế. Tuy nhiên, trong thực tế, quá trình áp dụng quy định về khống chế chi phí lãi vay không phải lúc nào cũng thuận lợi. Nếu doanh nghiệp chưa kiểm soát tốt hồ sơ, số liệu hoặc hiểu chưa đầy đủ về các ngoại lệ, nguy cơ phát sinh rủi ro thuế, bị loại trừ chi phí và ảnh hưởng đến lợi nhuận là điều khó tránh khỏi.
Rủi ro kiểm tra thuế
Khống chế chi phí lãi vay gắn liền với giao dịch liên kết và là nội dung cơ quan thuế thường kiểm tra trước tiên. Rủi ro phổ biến gồm:
- Tính sai EBITDA;
- Bù trừ nhầm các khoản doanh thu tài chính khác (như chênh lệch tỷ giá, cổ tức) vào lãi tiền gửi và lãi cho vay;
- Không theo dõi được số chi phí lãi vay chuyển tiếp qua các năm;
- Mặc định khoản vay ngân hàng không phát sinh quan hệ liên kết mà không có hồ sơ chứng minh.
Các sai sót này không chỉ làm tăng số thuế phải nộp mà còn kéo theo tiền chậm nộp và xử phạt vi phạm hành chính về thuế.
Vì vậy, doanh nghiệp cần rà soát quan hệ liên kết theo Điều 5, tính lại ngưỡng 30% EBITDA theo khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP ngay từ kỳ quyết toán 2026, đồng thời xây dựng chiến lược vay vốn phù hợp.
Kết luận
Việc tuân thủ khống chế chi phí lãi vay vừa giúp cơ quan thuế kiểm soát giao dịch liên kết, vừa buộc doanh nghiệp minh bạch hóa hoạt động vay vốn. Tuy nhiên, nếu thiếu chuẩn bị, doanh nghiệp rất dễ đối mặt với rủi ro bị loại chi phí, truy thu thuế và phạt hành chính. Để giảm thiểu nguy cơ này, doanh nghiệp cần xây dựng hồ sơ đầy đủ và có kế hoạch vay vốn hợp lý.
Để đảm bảo an toàn và hiệu quả, doanh nghiệp nên tham vấn các đơn vị có chuyên môn và kinh nghiệm trong lĩnh vực để được đồng hành hỗ trợ chi tiết.
Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí!
Thông tin liên hệ MAN – Master Accountant Network
- Địa chỉ: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- Email: man@man.net.vn
- Google Business Profile: Xem Google Business Profile của MAN – Master Accountant Network
- LinkedIn Founder: Xem hồ sơ LinkedIn của chuyên gia Lê Hoàng Tuyên
Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network. Ông là Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm sâu sắc trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Pháp lý doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp về khống chế chi phí lãi vay theo Nghị định 132
Nghị định 132 còn được áp dụng để khống chế chi phí lãi vay không?
Không. Từ ngày 01/7/2026, Nghị định 132/2020/NĐ-CP và Nghị định 20/2025/NĐ-CP hết hiệu lực. Việc khống chế chi phí lãi vay từ kỳ tính thuế TNDN năm 2026 thực hiện theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP. Riêng doanh nghiệp thuộc diện chuyển tiếp theo Điều 3 Nghị định 20/2025/NĐ-CP tiếp tục được chuyển tiếp cho thời gian còn lại.
Doanh nghiệp nào phải áp dụng quy định khống chế chi phí lãi vay?
Doanh nghiệp là người nộp thuế TNDN có phát sinh giao dịch với các bên có quan hệ liên kết theo Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP. Điều này đặc biệt đáng chú ý với doanh nghiệp vay vốn công ty mẹ, công ty trong tập đoàn, hoặc thuộc trường hợp xác định quan hệ liên kết thông qua bảo lãnh, cho vay vốn.
EBITDA được hiểu như thế nào trong quy định khống chế chi phí lãi vay?
EBITDA trong quy định này bằng lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh trong kỳ, cộng chi phí lãi vay sau khi trừ lãi tiền gửi và lãi cho vay, cộng chi phí khấu hao trong kỳ. Cách tính này khác EBITDA quản trị thông thường vì không xuất phát từ lợi nhuận trước thuế.
Chi phí lãi vay vượt mức 30% EBITDA có bị mất hoàn toàn không?
Không. Theo điểm b khoản 3 Điều 16 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, phần vượt mức được chuyển sang kỳ tính thuế tiếp theo khi chi phí lãi vay được trừ của kỳ đó thấp hơn ngưỡng 30% EBITDA. Thời gian chuyển tính liên tục không quá 05 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh.
Doanh nghiệp vay vốn ngân hàng có bị khống chế chi phí lãi vay không?
Nếu doanh nghiệp chỉ vay ngân hàng thuộc trường hợp loại trừ và không phát sinh giao dịch liên kết nào khác, doanh nghiệp không thuộc diện khống chế 30% EBITDA. Chi phí lãi vay khi đó được trừ theo quy định chung của pháp luật thuế TNDN. Ngược lại, nếu doanh nghiệp có giao dịch liên kết khác trong kỳ (chẳng hạn vay công ty mẹ), thì tổng chi phí lãi vay, kể cả lãi vay ngân hàng, vẫn phải tính theo ngưỡng 30% EBITDA.




