Nhận trao đổi
Tư vấn ngay
Tin tức | 23/07/2026

Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo Thông tư 95

Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo Thông tư 95

Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là ai, xác định dựa trên căn cứ nào? Đây là câu hỏi đầu tiên mà bất kỳ cá nhân có thu nhập từ nước ngoài hay doanh nghiệp có giao dịch liên kết xuyên biên giới nào cũng cần trả lời được trước khi tính đến việc hưởng ưu đãi thuế. Theo Thông tư 95/2026/TT-BTC do Bộ Tài chính ban hành ngày 01/7/2026, không phải cứ có thu nhập phát sinh tại nước ngoài là đương nhiên được áp dụng Hiệp định thuế, toàn bộ quyền lợi này phụ thuộc vào việc bạn có được xác định là “đối tượng cư trú” theo đúng tiêu chí pháp luật quy định hay không. Xác định sai ngay từ bước này, doanh nghiệp có thể mất trắng ưu đãi thuế, thậm chí đối mặt với rủi ro bị đánh thuế hai lần trên cùng một khoản thu nhập. Bài viết dưới đây hệ thống hóa đầy đủ, chính xác quy định mới nhất tại Thông tư 95/2026/TT-BTC về đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, giúp bạn tự tin rà soát tình trạng cư trú thuế của chính mình hoặc doanh nghiệp.

Mục lục

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần là gì và áp dụng cho ai?

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (thường được gọi tắt là Hiệp định thuế) là thỏa thuận song phương giữa Việt Nam và một quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhằm ngăn chặn tình trạng một khoản thu nhập hoặc tài sản bị đánh thuế đồng thời tại cả hai nước, đồng thời ngăn ngừa hành vi trốn lậu thuế thông qua việc lợi dụng chênh lệch pháp luật giữa các quốc gia.

Thông tư 95/2026/TT-BTC không chỉ dừng lại ở việc hướng dẫn áp dụng Hiệp định thuế, mà còn quy định thêm hai nội dung có liên hệ chặt chẽ với nhau:

  • Hướng dẫn thực hiện thủ tục thỏa thuận song phương (Mutual Agreement Procedure – MAP) giữa Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam và của Bên ký kết;
  • Hướng dẫn áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (Advance Pricing Agreement – APA) trong quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết.

Về nguyên tắc chung, đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần được xác định là đối tượng cư trú của Việt Nam, đối tượng cư trú của Bên ký kết, hoặc đồng thời là đối tượng cư trú của cả Việt Nam và Bên ký kết. Nói cách khác, “tình trạng cư trú thuế” chính là chìa khóa để xác định một cá nhân hay tổ chức có được coi là đối tượng áp dụng Hiệp định thuế hay không, chứ không đơn thuần dựa vào quốc tịch hay nơi phát sinh thu nhập.

Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo quy định mới nhất

Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo Thông tư 95
Đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo Thông tư 95

Để xác định chính xác đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần, Thông tư 95/2026/TT-BTC phân chia rõ thành hai nhóm:

  • Đối tượng cư trú của Bên ký kết
  • Đối tượng cư trú của Việt Nam.

Đối tượng cư trú của Bên ký kết

Theo quy định, đối tượng cư trú của một Bên ký kết bao gồm những đối tượng chịu thuế tại Bên ký kết đó theo pháp luật của chính Bên ký kết, và đáp ứng một trong hai điều kiện sau:

  • Là cá nhân có nhà ở, có nơi cư trú tại Bên ký kết đó, hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng là cá nhân;
  • Là công ty và bất kỳ tổ chức nào của nhiều cá nhân, công ty hoặc các chủ thể khác có trụ sở điều hành, trụ sở đăng ký, hoặc được thành lập tại Bên ký kết đó, hoặc các tiêu thức có tính chất tương tự trong trường hợp đối tượng là một tổ chức.

Bên cạnh đó, Nhà nước, chính quyền cơ sở hoặc chính quyền địa phương của một Bên ký kết cũng được xem là đối tượng cư trú của Bên ký kết, trong trường hợp Hiệp định thuế có quy định cụ thể.

Một điểm cần đặc biệt lưu ý: Tùy theo từng Hiệp định thuế cụ thể, đối tượng cư trú của một Bên ký kết sẽ không bao gồm những đối tượng chỉ chịu thuế đối với thu nhập phát sinh từ các nguồn hoặc tài sản tại Bên ký kết đó. Đây là quy định nhằm loại trừ trường hợp một cá nhân, tổ chức tuy có phát sinh nghĩa vụ thuế tại một nước nhưng không thực sự có mối liên hệ cư trú bền vững với nước đó.

Đối tượng cư trú của Việt Nam

Song song với đối tượng cư trú của Bên ký kết, Thông tư 95/2026/TT-BTC cũng quy định rõ đối tượng cư trú của Việt Nam theo pháp luật Việt Nam, bao gồm:

  • Cá nhân cư trú theo quy định tại Điều 4 Nghị định 253/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân;
  • Công ty và bất kỳ tổ chức nào của nhiều cá nhân, công ty hoặc các chủ thể khác đăng ký hoạt động theo pháp luật tại Việt Nam;
  • Nhà nước hoặc chính quyền địa phương của Việt Nam, trong trường hợp Hiệp định thuế có quy định.

Tương tự như đối tượng cư trú của Bên ký kết, tùy theo từng Hiệp định thuế, đối tượng cư trú của Việt Nam sẽ không bao gồm những đối tượng chỉ chịu thuế đối với thu nhập từ các nguồn hoặc tài sản phát sinh tại Việt Nam.

Đáng chú ý: Để một đối tượng cư trú của Việt Nam theo quy định pháp luật nội địa được chính thức công nhận là đối tượng cư trú theo Hiệp định thuế, đối tượng đó phải đáp ứng thêm điều kiện quy định tại điểm a.1 và a.2 khoản 2 Điều 8 Thông tư 95/2026/TT-BTC. Đây là bước kiểm tra bổ sung mà cá nhân, doanh nghiệp cần rà soát kỹ trước khi khẳng định mình thuộc đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần.

Cách xác định đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần khi song trùng cư trú

Cách xác định đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần khi song trùng cư trú
Cách xác định đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần khi song trùng cư trú

Trên thực tế, không hiếm trường hợp một cá nhân hoặc tổ chức đồng thời được xác định là đối tượng cư trú của cả Việt Nam lẫn Bên ký kết theo pháp luật của mỗi nước. Đây chính là tình huống phức tạp nhất, đòi hỏi phải áp dụng các tiêu thức phá vỡ song trùng mà Thông tư 95/2026/TT-BTC đã quy định chi tiết.

Đối với cá nhân: Nguyên tắc xác định tuần tự

Việc xác định một cá nhân là đối tượng cư trú của Việt Nam trong trường hợp song trùng cư trú được thực hiện tuần tự theo các tiêu thức sau, tiêu thức trước không giải quyết được mới chuyển sang tiêu thức sau:

  • Cá nhân đó có nhà ở thường trú (nhà thuộc sở hữu, nhà thuê hoặc nhà thuộc quyền sử dụng của cá nhân đó) tại Việt Nam.
  • Nếu cá nhân có nhà ở thường trú tại cả Việt Nam và Bên ký kết, thì xét đến việc cá nhân đó có quan hệ kinh tế chặt chẽ hơn tại Việt Nam hay không (ví dụ: có việc làm, địa điểm kinh doanh, nơi quản lý tài sản cá nhân, hoặc các quan hệ kinh tế khác), hoặc có quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn tại Việt Nam (như quan hệ gia đình, quan hệ xã hội).
  • Trường hợp không xác định được nơi có quan hệ kinh tế hoặc quan hệ cá nhân chặt chẽ hơn, hoặc cá nhân không có nhà ở thường trú tại cả hai nước, thì xét đến nơi cá nhân có mặt thường xuyên hơn trong năm tính thuế.
  • Nếu cá nhân có mặt thường xuyên hoặc không thường xuyên tại cả hai nước theo cách không thể phân định, thì xét đến quốc tịch: cá nhân có quốc tịch Việt Nam sẽ được xác định là đối tượng cư trú của Việt Nam.
  • Trường hợp cá nhân vừa có quốc tịch Việt Nam vừa có quốc tịch Bên ký kết, hoặc không có quốc tịch của cả hai nước, thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam sẽ giải quyết tình trạng cư trú của cá nhân đó thông qua thủ tục thỏa thuận song phương với Nhà chức trách có thẩm quyền của Bên ký kết.

Một tình huống đặc thù khác cần lưu ý: Trường hợp theo quy định pháp luật của cả Việt Nam và Bên ký kết, một cá nhân đồng thời được xác định là đối tượng cư trú của cả hai nước trong cùng một năm tính thuế nhưng quy định về năm tính thuế của hai nước lại khác nhau. Trong trường hợp này, cá nhân được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam nếu trong năm tính thuế đó, cá nhân chủ yếu làm việc và thường xuyên sinh sống tại Việt Nam. Riêng đối với khoảng thời gian đầu năm tính thuế của Việt Nam mà thuộc năm tính thuế trước đó của Bên ký kết (do sự khác biệt về cách xác định năm tính thuế giữa hai nước), cá nhân sẽ được coi là đối tượng cư trú của Bên ký kết cho mục đích quyết toán thuế tại cả Việt Nam và Bên ký kết.

Đối với tổ chức, doanh nghiệp

Đối với đối tượng không phải là cá nhân, căn cứ theo quy định tại từng Hiệp định thuế cụ thể, một tổ chức được xác định là đối tượng cư trú của Việt Nam nếu thuộc một trong các trường hợp sau:

  • Được thành lập hoặc đăng ký hoạt động tại Việt Nam;
  • Có trụ sở chính tại Việt Nam;
  • Có trụ sở điều hành thực tế tại Việt Nam. Theo Thông tư 95/2026/TT-BTC, trụ sở điều hành thực tế được hiểu là nơi nhân sự quản lý cấp cao hoặc ban lãnh đạo doanh nghiệp tiến hành họp, xem xét, thảo luận và đưa ra các quyết định quản lý, hoặc quyết định về sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp; hoặc là nơi lưu giữ các sổ sách kế toán quan trọng nhất của doanh nghiệp.

Trong trường hợp một tổ chức vừa được thành lập hoặc đăng ký tại cả hai nước, hoặc có trụ sở chính, hoặc có trụ sở điều hành thực tế tại cả hai nước, thì Nhà chức trách có thẩm quyền của Việt Nam và Nhà chức trách có thẩm quyền của Bên ký kết sẽ cùng xác định tổ chức đó chỉ là đối tượng cư trú của một trong hai nước, thông qua thủ tục thỏa thuận song phương. Đáng lưu ý, nếu Việt Nam và Bên ký kết không đạt được thỏa thuận chung, tổ chức đó sẽ không được coi là đối tượng cư trú thuế của bất kỳ nước nào cho mục đích áp dụng Hiệp định thuế. Đây là một hệ quả pháp lý quan trọng mà doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức đa quốc gia cần đặc biệt lưu tâm.

Vì sao doanh nghiệp có giao dịch liên kết cần nắm rõ đối tượng áp dụng?

Vì sao doanh nghiệp có giao dịch liên kết cần nắm rõ đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần
Vì sao doanh nghiệp có giao dịch liên kết cần nắm rõ đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần

Đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, việc xác định đúng đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần không chỉ mang ý nghĩa lý thuyết mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi thuế thực tế. Một doanh nghiệp chỉ có thể được hưởng các ưu đãi theo Hiệp định thuế (như miễn, giảm thuế đối với thu nhập từ cổ tức, lãi tiền vay, tiền bản quyền, hay lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh xuyên biên giới) khi chứng minh được mình thực sự là đối tượng cư trú theo đúng các tiêu thức đã nêu ở trên.

Không chỉ vậy, việc xác định tình trạng cư trú thuế còn có mối liên hệ mật thiết với hai cơ chế khác cũng được Thông tư 95/2026/TT-BTC hướng dẫn thủ tục thỏa thuận song phương (MAP) và cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA). Đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, khi xây dựng hồ sơ APA hoặc khi phát sinh tranh chấp cần giải quyết qua MAP, việc xác định sai tình trạng cư trú thuế ngay từ đầu có thể khiến toàn bộ hồ sơ bị ảnh hưởng, kéo theo rủi ro về thời gian và chi phí tuân thủ. Trong những tình huống phức tạp như vậy, doanh nghiệp nên cân nhắc sử dụng dịch vụ tư vấn giao dịch liên kết để được rà soát tình trạng cư trú thuế song song với việc đánh giá rủi ro giao dịch liên kết một cách toàn diện. 

Ngược lại, nếu doanh nghiệp xác định sai và tự cho rằng mình thuộc đối tượng áp dụng Hiệp định thuế trong khi thực tế không đáp ứng đầy đủ điều kiện, doanh nghiệp có thể đối mặt với rủi ro bị cơ quan thuế truy thu, ấn định lại nghĩa vụ thuế, hoặc thậm chí bị đánh thuế hai lần trên cùng một khoản thu nhập đúng với tình trạng mà Hiệp định thuế vốn được lập ra để ngăn chặn.

Xem thêm: Toàn văn Thông tư 95/2026/TT-BTC.

Kết luận

Có thể thấy, đối tượng áp dụng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần theo Thông tư 95/2026/TT-BTC được xác định dựa trên nền tảng là tình trạng cư trú thuế. Đây là nội dung nền tảng, cần được nắm vững trước khi cá nhân hay doanh nghiệp tiến hành các bước tiếp theo như xin xác nhận cư trú, chuẩn bị hồ sơ áp dụng ưu đãi Hiệp định thuế, hay xây dựng hồ sơ APA đối với giao dịch liên kết.

Nếu doanh nghiệp của bạn đang có giao dịch liên kết xuyên biên giới và cần rà soát lại tình trạng cư trú thuế trước khi quyết toán, đây là thời điểm phù hợp để xem xét kỹ các quy định mới tại Thông tư 95/2026/TT-BTC.

Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được tư vấn và hỗ trợ kịp thời!

Thông tin liên hệ MAN – Master Accountant Network

Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network. Ông là Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm sâu sắc trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Pháp lý doanh nghiệp.

Câu hỏi thường gặp về đối tượng áp dụng Hiệp định đánh thuế hai lần

Cá nhân có quốc tịch nước ngoài nhưng sinh sống lâu dài tại Việt Nam có thuộc đối tượng áp dụng Hiệp định thuế không?

Có thể. Theo Thông tư 95/2026/TT-BTC, quốc tịch không phải là yếu tố quyết định duy nhất. Nếu cá nhân đó đáp ứng điều kiện cư trú tại Điều 4 Nghị định 253/2026/NĐ-CP (ví dụ có nhà ở thường trú, hoặc có mặt tại Việt Nam theo số ngày quy định) và đồng thời thỏa các điều kiện tại điểm a.1, a.2 khoản 2 Điều 8 Thông tư 95/2026/TT-BTC, cá nhân đó vẫn được xác định là đối tượng cư trú của Việt Nam theo Hiệp định thuế, bất kể mang quốc tịch nước nào. 

Doanh nghiệp có trụ sở đăng ký ở nước ngoài nhưng ban lãnh đạo họp và ra quyết định tại Việt Nam thì có được coi là đối tượng cư trú Việt Nam không? 

Có. Thông tư 95/2026/TT-BTC quy định một tổ chức được coi là đối tượng cư trú của Việt Nam nếu có trụ sở điều hành thực tế tại Việt Nam, tức là nơi nhân sự quản lý cấp cao hoặc ban lãnh đạo tiến hành họp, thảo luận và ra quyết định quản lý, sản xuất kinh doanh, hoặc nơi lưu giữ sổ sách kế toán quan trọng nhất. Yếu tố này độc lập với nơi đăng ký thành lập.

Nếu doanh nghiệp bị xác định là đối tượng cư trú của cả hai nước và Việt Nam với Bên ký kết không đạt được thỏa thuận thì sao?

Theo quy định, nếu qua thủ tục thỏa thuận song phương mà hai bên không đạt được thỏa thuận chung, doanh nghiệp đó sẽ không được coi là đối tượng cư trú thuế của bất kỳ nước nào cho mục đích áp dụng Hiệp định thuế. Điều này đồng nghĩa doanh nghiệp có thể không được hưởng bất kỳ ưu đãi nào theo Hiệp định thuế cho đến khi tình trạng cư trú được làm rõ.

Đối tượng chỉ chịu thuế trên thu nhập phát sinh tại một nước có được coi là đối tượng cư trú theo Hiệp định thuế không?

Không, trong đa số trường hợp. Thông tư 95/2026/TT-BTC nêu rõ, tùy theo từng Hiệp định thuế cụ thể, đối tượng cư trú của một Bên ký kết (hoặc của Việt Nam) sẽ không bao gồm đối tượng chỉ chịu thuế đối với thu nhập từ các nguồn hoặc tài sản phát sinh tại nước đó. 

Việc xác định sai đối tượng áp dụng Hiệp định thuế ảnh hưởng thế nào đến hồ sơ APA của doanh nghiệp có giao dịch liên kết?

Tình trạng cư trú thuế là căn cứ nền tảng khi doanh nghiệp xây dựng hồ sơ đề nghị áp dụng cơ chế thỏa thuận trước về phương pháp xác định giá tính thuế (APA) theo Thông tư 95/2026/TT-BTC. Nếu xác định sai ngay từ đầu, hồ sơ có thể bị cơ quan thuế yêu cầu bổ sung, làm chậm tiến độ, hoặc bị từ chối áp dụng ưu đãi Hiệp định thuế đối với các giao dịch liên kết liên quan. 

ZaloMessengerPhone

Nhận trao đổi tư vấn nghiệp vụ ngay

(Ngay khi nhận được thông tin, chúng tôi lập tức phản hồi cho bạn)
Hãy cho biết bạn cần hỗ trợ gì?