Tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn là chủ thể xuất hiện ngày càng nhiều trong các giao dịch tái cơ cấu nợ nhưng không phải kế toán trưởng nào cũng nắm rõ khi nào khoản nợ được bán, xử lý qua nhóm tổ chức này sẽ kéo doanh nghiệp vào diện có quan hệ liên kết theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP. Xác định sai một chi tiết nhỏ trong Điều 5 có thể khiến doanh nghiệp phải lập thêm hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết không cần thiết, hoặc ngược lại, bỏ sót nghĩa vụ kê khai. Bài viết hệ thống lại toàn bộ căn cứ pháp lý, điều kiện áp dụng và những sai lầm phổ biến liên quan đến tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu.
Vì sao câu hỏi về tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn đang nóng trở lại
Từ khi Nghị định 255/2026/NĐ-CP thay thế khung pháp lý cũ về quản lý thuế đối với doanh nghiệp có giao dịch liên kết, cách nhận diện bên liên kết tại Điều 5 được viết chi tiết hơn hẳn, trong đó có một điểm riêng dành cho tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn. Đây không phải chi tiết ngẫu nhiên: hoạt động mua bán nợ xấu, xử lý nợ tồn đọng qua các tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ đang là kênh tái cơ cấu tài chính phổ biến với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp có khoản vay tín dụng gặp khó khăn.
Vấn đề đặt ra rất thực tế: Khi khoản nợ của doanh nghiệp được chuyển giao, mua bán, hoặc doanh nghiệp được một tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu đứng ra bảo lãnh, thì quan hệ giữa hai bên có tự động trở thành quan hệ liên kết hay không?
Nếu có, doanh nghiệp phải kê khai giao dịch liên kết, lập hồ sơ xác định giá, và chịu ảnh hưởng bởi ngưỡng khống chế chi phí lãi vay. Nếu không, doanh nghiệp được miễn trừ toàn bộ các nghĩa vụ này đối với riêng quan hệ đó. Sự khác biệt giữa hai kết luận này có thể lên tới hàng tỷ đồng chi phí tuân thủ và rủi ro thuế, nên việc hiểu đúng quy định về tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu là bước không thể bỏ qua trước khi khóa sổ kỳ tính thuế.
Căn cứ pháp lý xác định tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn có phải bên liên kết

Toàn bộ nội dung liên quan đến tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu nằm tại điểm d khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, quy định về các bên có quan hệ liên kết. Muốn hiểu đúng ngoại lệ dành cho nhóm tổ chức này, cần đọc từ nguyên tắc chung.
Nguyên tắc chung tại điểm d khoản 2 Điều 5: Ngưỡng 25% và 50%
Điểm d khoản 2 Điều 5 quy định một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (bao gồm cả các khoản vay từ bên thứ ba được đảm bảo từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự) sẽ tạo thành quan hệ liên kết, với điều kiện tổng dư nợ các khoản vốn vay của doanh nghiệp đi vay với doanh nghiệp cho vay hoặc bảo lãnh ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng dư nợ tất cả các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay.
Lưu ý quan trọng: Chỉ khi khoản vay hoặc bảo lãnh đạt đồng thời cả hai điều kiện về tỷ lệ vốn góp và tỷ trọng nợ trung dài hạn, quan hệ giữa bên cho vay hoặc bảo lãnh và doanh nghiệp đi vay mới bị coi là quan hệ liên kết.
Ba nhóm ngoại lệ
Ngay sau nguyên tắc chung, Nghị định đặt ra ba nhóm loại trừ, áp dụng cho ba nhóm chủ thể cho vay hoặc bảo lãnh khác nhau:
- Điểm d.1: Bên bảo lãnh hoặc cho vay là tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 (sửa đổi bởi Luật số 96/2025/QH15), không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp đi vay hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh.
- Điểm d.2: Bên bảo lãnh hoặc cho vay là tổ chức tín dụng theo cùng luật nêu trên, và doanh nghiệp đi vay hoặc được bảo lãnh không cùng chịu sự điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư của một bên thứ ba khác.
- Điểm d.3: Chủ nợ, bên bảo lãnh là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ có chức năng mua, bán, xử lý nợ, không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp bên nợ hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh.
Quy định dành riêng cho tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn, tách bạch hoàn toàn khỏi nhóm tổ chức tín dụng.
Việc tách riêng này có lý do rõ ràng là bản chất hoạt động của tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu là tiếp nhận, mua lại các khoản nợ đã phát sinh từ trước, quan hệ giữa tổ chức này với doanh nghiệp bên nợ vốn dĩ hình thành từ nghiệp vụ xử lý nợ chứ không phải từ một quyết định cấp tín dụng thông thường, nên nhà làm luật cần một điều kiện loại trừ phù hợp với đặc thù đó.
Ba điều kiện để tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu không bị coi là bên liên kết
Có thể tách quy định thành ba điều kiện phải thỏa mãn đồng thời để quan hệ giữa tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu với doanh nghiệp bên nợ hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh không bị xác định là quan hệ liên kết:
- Điều kiện về chủ sở hữu: Chủ nợ hoặc bên bảo lãnh phải là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ. Tổ chức có phần vốn nhà nước dưới 100%, dù có chức năng mua bán nợ, cũng không thuộc phạm vi áp dụng của điểm d.3.
- Điều kiện về chức năng hoạt động: Tổ chức đó phải có chức năng mua, bán, xử lý nợ. Đây là điều kiện gắn với ngành nghề kinh doanh cốt lõi được pháp luật cho phép, chứ không chỉ là một giao dịch mua nợ đơn lẻ, ngẫu nhiên của một tổ chức khác.
- Điều kiện về mức độ can thiệp: Tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp bên nợ hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh theo các tiêu chí quan hệ liên kết khác được quy định tại điểm a và điểm c khoản 2 Điều 5 (sở hữu vốn từ 25% trở lên; là cổ đông lớn nhất và nắm giữ từ 10% cổ phần trở lên).
Chỉ khi cả ba điều kiện trên cùng được thỏa mãn, quan hệ chủ nợ – con nợ hoặc quan hệ bảo lãnh phát sinh từ hoạt động mua bán, xử lý nợ mới được loại khỏi diện quan hệ liên kết theo điểm d. Thiếu bất kỳ điều kiện nào, chẳng hạn tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu đồng thời nắm giữ trên 25% vốn góp của doanh nghiệp bên nợ, quan hệ liên kết vẫn được xác lập theo điểm a hoặc điểm c, độc lập với ngoại lệ.
Phân biệt ngoại lệ dành cho tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu với ngoại lệ của tổ chức tín dụng

Một điểm dễ nhầm lẫn trong thực tế là gộp chung điểm vì cả ba đều nói về việc “không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư”. Tuy nhiên có hai khác biệt căn bản:
- Về chủ thể: Điểm d.1 và d.2 áp dụng cho tổ chức tín dụng hoạt động theo Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15; còn điểm d.3 áp dụng riêng cho tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ có chức năng mua, bán, xử lý nợ, nhóm chủ thể này không đương nhiên là tổ chức tín dụng, có thể là công ty quản lý tài sản, công ty mua bán nợ chuyên trách.
- Về phạm vi tiêu chí đối chiếu: Điểm d.1 loại trừ theo các điểm a, c, đ, e, g, h, k, l, m khoản 2 Điều 5 (phạm vi rộng); d.2 loại trừ theo các điểm b, e, i (trường hợp cùng chịu sự điều hành của bên thứ ba); còn d.3 chỉ loại trừ theo điểm a và điểm c, tức là chỉ cần chứng minh tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu không nắm giữ vốn góp hoặc có cổ phần chi phối theo hai tiêu chí này, phạm vi đối chiếu hẹp và cụ thể hơn so với d.1.
Sự khác biệt về phạm vi tiêu chí đối chiếu này có ý nghĩa thực hành quan trọng: Khi doanh nghiệp chuẩn bị hồ sơ chứng minh, không thể áp dụng máy móc bộ tiêu chí của d.1 cho trường hợp d.3, vì hai điều khoản dẫn chiếu đến các điểm khác nhau của khoản 2 Điều 5. Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp nên tham khảo thêm bài viết hệ thống về mối quan hệ liên kết theo Nghị định 255 để đối chiếu đầy đủ toàn bộ các điểm a đến m của khoản 2 Điều 5 trước khi kết luận.
Ví dụ thực tế áp dụng quy định về tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu
Giả sử: Công ty B là doanh nghiệp sản xuất, có khoản nợ trung hạn tại một ngân hàng thương mại. Do khó khăn tài chính, khoản nợ này được ngân hàng bán lại cho một công ty mua bán nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, có chức năng chuyên trách mua, bán, xử lý nợ xấu theo quy định pháp luật. Sau giao dịch mua bán nợ, dư nợ của Công ty B với tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu này chiếm 60% tổng dư nợ trung và dài hạn của công ty, tương ứng 30% vốn góp chủ sở hữu, tức là đạt cả hai ngưỡng 25% và 50% nêu tại điểm d.
Nếu chỉ dừng ở nguyên tắc chung, Công ty B sẽ bị coi là có quan hệ liên kết với tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu này. Nhưng vì tổ chức đó thỏa mãn đồng thời ba điều kiện đã nêu là sở hữu 100% vốn nhà nước, có chức năng mua bán, xử lý nợ, và không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào Công ty B theo điểm a, c, nên quan hệ phát sinh từ riêng khoản nợ được mua lại không bị xác định là quan hệ liên kết theo điểm d. Công ty B không phải kê khai giao dịch liên kết đối với riêng khoản nợ này, trừ khi công ty phát sinh thêm quan hệ liên kết khác theo các điểm còn lại của khoản 2 Điều 5.
Ngược lại, nếu tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu đó đồng thời cử người tham gia Hội đồng quản trị hoặc góp thêm vốn cổ phần vào Công ty B vượt 25%, điều kiện thứ ba không còn được thỏa mãn, và quan hệ liên kết theo điểm a sẽ được xác lập độc lập với hoạt động mua bán nợ.
Hồ sơ chứng minh tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn không phải bên liên kết

Muốn vận dụng ngoại lệ tại điểm d.3, doanh nghiệp cần chuẩn bị sẵn các tài liệu sau để giải trình khi thanh tra, kiểm tra thuế:
- Văn bản, hợp đồng mua bán nợ xác nhận bên nhận nợ là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, kèm giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp hoặc quyết định thành lập thể hiện tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước.
- Tài liệu chứng minh chức năng mua, bán, xử lý nợ của tổ chức đó theo giấy phép hoạt động hoặc điều lệ doanh nghiệp.
- Danh sách cổ đông, thành viên góp vốn, thành viên Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng thành viên của doanh nghiệp bên nợ tại thời điểm phát sinh giao dịch, để chứng minh tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu không nắm giữ vốn góp từ 25% trở lên và không là cổ đông lớn nhất nắm từ 10% cổ phần trở lên.
- Bản kê dư nợ thể hiện tỷ lệ giữa khoản nợ với vốn góp chủ sở hữu và với tổng dư nợ trung, dài hạn, làm căn cứ đối chiếu ngưỡng 25%/50% tại điểm d.
- Kết luận rà soát bằng văn bản về việc doanh nghiệp có hay không có quan hệ liên kết với tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu, lưu cùng hồ sơ quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp của kỳ liên quan.
Với những doanh nghiệp có cấu trúc sở hữu phức tạp hoặc nhiều khoản nợ được xử lý qua các tổ chức khác nhau, việc tự rà soát dễ bỏ sót yếu tố gián tiếp. Đây là lúc doanh nghiệp nên cân nhắc sử dụng dịch vụ tư vấn giao dịch liên kết để được rà soát độc lập trước khi đưa ra kết luận chính thức.
Kết luận
Quy định về tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu tại điểm d.3 khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP là một ngoại lệ có điều kiện, không phải một sự miễn trừ mặc định. Ba điều kiện cần phải lưu ý:
- Sở hữu 100% vốn nhà nước;
- Có chức năng mua bán xử lý nợ;
- Và không tham gia điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư.
Cả 3 điều kiện phải được thỏa mãn đồng thời thì quan hệ phát sinh từ hoạt động mua bán, bảo lãnh nợ mới không bị coi là quan hệ liên kết.
Doanh nghiệp có khoản nợ được xử lý qua nhóm tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu nên chủ động rà soát và lưu hồ sơ chứng minh ngay từ thời điểm phát sinh giao dịch, thay vì chờ đến khi thanh tra thuế đặt câu hỏi.
Nếu doanh nghiệp còn băn khoăn về việc xác định quan hệ liên kết trong trường hợp cụ thể của mình, đội ngũ chuyên gia giao dịch liên kết của MAN – Master Accountant Network sẵn sàng đồng hành rà soát và hoàn thiện hồ sơ trước kỳ quyết toán.
Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí!
Thông tin liên hệ MAN – Master Accountant Network
- Địa chỉ: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- Email: man@man.net.vn
- Google Business Profile: Xem Google Business Profile của MAN – Master Accountant Network
- LinkedIn Founder: Xem hồ sơ LinkedIn của chuyên gia Lê Hoàng Tuyên
Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network. Ông là Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm sâu sắc trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Pháp lý doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp về trường hợp tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn
Tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn là gì theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP?
Đây là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, có chức năng mua, bán, xử lý nợ, được nêu tại điểm d.3 khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP là một trong ba nhóm chủ thể được loại trừ khỏi diện bên liên kết khi cho vay hoặc bảo lãnh, nếu đáp ứng đủ điều kiện.
Điều kiện nào để tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu không bị coi là bên liên kết?
Cần thỏa mãn đồng thời ba điều kiện: sở hữu 100% vốn điều lệ nhà nước; có chức năng mua, bán, xử lý nợ; và không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát, góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp bên nợ hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh theo điểm a, c khoản 2 Điều 5.
Ngoại lệ dành cho tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu có giống ngoại lệ của tổ chức tín dụng không?
Không hoàn toàn. Ngoại lệ tại d.1, d.2 áp dụng cho tổ chức tín dụng theo Luật Các tổ chức tín dụng số 32/2024/QH15 với phạm vi tiêu chí đối chiếu rộng hơn (nhiều điểm của khoản 2 Điều 5); còn ngoại lệ tại d.3 dành riêng cho tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu, chỉ đối chiếu với điểm a và điểm c.
Nếu khoản nợ đạt ngưỡng 25% vốn góp và 50% tổng dư nợ trung dài hạn, doanh nghiệp có luôn phải kê khai giao dịch liên kết không?
Không. Nếu chủ nợ hoặc bên bảo lãnh là tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu và đáp ứng đủ ba điều kiện tại điểm d.3, quan hệ phát sinh từ riêng khoản vay hoặc bảo lãnh đó không bị xác định là quan hệ liên kết, dù đạt cả hai ngưỡng 25% và 50%.
Doanh nghiệp cần lưu những tài liệu gì để chứng minh không có quan hệ liên kết với tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu?
Doanh nghiệp cần lưu hợp đồng mua bán nợ, tài liệu chứng minh tỷ lệ sở hữu vốn nhà nước và chức năng mua bán, xử lý nợ của tổ chức đó, danh sách cổ đông hoặc thành viên góp vốn tại thời điểm giao dịch, bảng kê dư nợ đối chiếu ngưỡng 25% hoặc 50%, và kết luận rà soát bằng văn bản.
Nếu tổ chức mua bán và xử lý nợ do Nhà nước sở hữu sau đó góp vốn vào doanh nghiệp bên nợ thì sao?
Khi đó điều kiện thứ ba tại điểm d.3 không còn được thỏa mãn, và quan hệ liên kết có thể được xác lập độc lập theo điểm a hoặc điểm c khoản 2 Điều 5, tùy vào tỷ lệ vốn góp hoặc cổ phần nắm giữ.



