Từ 01/7/2026, Nghị định 255/2026/NĐ-CP chính thức thay thế Nghị định 132/2020/NĐ-CP, mở rộng từ 10 lên 12 hình thức xác định quan hệ liên kết, trong đó bổ sung hình thức giao dịch mượn, cho mượn vào diện kiểm soát. Nếu doanh nghiệp của bạn vẫn đang xác định giao dịch liên kết theo quy định cũ, rất có thể đang bỏ sót nghĩa vụ kê khai hoặc đánh giá sai ngưỡng miễn lập hồ sơ. Bài viết hệ thống toàn bộ cách xác định doanh nghiệp có giao dịch liên kết theo quy định mới nhất, giúp doanh nghiệp rà soát đúng, đủ và tránh rủi ro bị ấn định thuế.
Bên liên kết được hiểu như thế nào theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP?
Theo quy định tại Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, các bên có quan hệ liên kết thực hiện theo quy định tại khoản 17 Điều 4 Luật Quản lý thuế 2025. Đây là điểm khác biệt về mặt kỹ thuật lập pháp so với Nghị định 132/2020/NĐ-CP. Khái niệm bên liên kết nay được luật hóa trực tiếp trong Luật Quản lý thuế, còn Nghị định 255/2026/NĐ-CP cụ thể hóa thành các trường hợp/hình thức xác định.
Quy định mới định nghĩa lại giao dịch liên kết như thế nào?
Về giao dịch liên kết, khoản 1 Điều 4 Nghị định 255/2026/NĐ-CP đưa ra định nghĩa đầy đủ, mở rộng hơn so với trước:
Giao dịch liên kết là các giao dịch mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ; vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác; mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình và thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết, trừ các giao dịch kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ thuộc phạm vi điều chỉnh giá của Nhà nước thực hiện theo quy định của pháp luật về giá.
Mục tiêu quản lý không thay đổi so với trước: Cơ quan lý giao dịch liên kết để bảo đảm các giao dịch này tuân thủ Nguyên tắc giao dịch độc lập, giá trị giao dịch phải tương đương giá trị giao dịch được thực hiện giữa các bên không có quan hệ liên kết trong điều kiện thị trường tương đồng.
Các hình thức xác định bên liên kết theo Nghị định 255

Nếu như Nghị định 132/2020/NĐ-CP quy định 10 trường hợp cụ thể để xác định doanh nghiệp có giao dịch liên kết, thì Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP mở rộng thành 12 hình thức, chính thức có hiệu lực từ 01/7/2026. Để dễ theo dõi, có thể phân loại các trường hợp này theo 4 nhóm quan hệ cốt lõi như sau:
Nhóm 1: Quan hệ về sở hữu vốn
Yếu tố sở hữu vốn là căn cứ đầu tiên và phổ biến nhất để xác định quan hệ liên kết. Theo Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, quan hệ này được nhận diện qua tỷ lệ góp vốn trực tiếp, gián tiếp hoặc vai trò cổ đông lớn nhất. Bảng dưới đây tổng hợp các trường hợp cụ thể:
| Trường hợp | Mô tả |
| Sở hữu trực tiếp/gián tiếp | Một doanh nghiệp nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp kia. |
| Sở hữu qua bên thứ ba | Cả hai doanh nghiệp đều có ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu do một bên thứ ba nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp. |
| Cổ đông lớn nhất kiêm sở hữu | Một doanh nghiệp là cổ đông lớn nhất về vốn góp của chủ sở hữu và nắm giữ trực tiếp hoặc gián tiếp ít nhất 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp kia. |
Đây là nhóm quan hệ dễ rà soát nhất vì căn cứ trên tỷ lệ vốn góp có thể xác định được ngay trên hồ sơ pháp lý và sổ cổ đông. Doanh nghiệp nên rà soát định kỳ cơ cấu sở hữu, kể cả sở hữu gián tiếp qua bên thứ ba.
Nhóm 2: Quan hệ về kiểm soát quản lý, vay vốn, mượn, cho mượn
Bên cạnh sở hữu vốn, Nghị định 255/2026/NĐ-CP còn xác định mối quan hệ liên kết thông qua khả năng chi phối nhân sự điều hành và mức độ phụ thuộc tài chính. Đây cũng là nhóm có nhiều thay đổi đáng chú ý nhất so với Nghị định 132/2020/NĐ-CP, đặc biệt là việc bổ sung giao dịch mượn, cho mượn. Bảng dưới đây tổng hợp các trường hợp cụ thể:
| Trường hợp | Mô tả |
| Bảo lãnh/cho vay | Một doanh nghiệp bảo lãnh hoặc cho một doanh nghiệp khác vay vốn dưới bất kỳ hình thức nào (kể cả các khoản vay từ bên thứ ba được bảo đảm từ nguồn tài chính của bên liên kết và các giao dịch tài chính có bản chất tương tự), với điều kiện tổng dư nợ các khoản vốn vay của doanh nghiệp đi vay với doanh nghiệp cho vay hoặc bảo lãnh ít nhất bằng 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp đi vay và chiếm trên 50% tổng giá trị các khoản nợ trung và dài hạn của doanh nghiệp đi vay. |
| Điều hành nhân sự chủ chốt | Hai doanh nghiệp cùng chịu sự điều hành hoặc kiểm soát về nhân sự chủ chốt bởi cùng một cá nhân/tổ chức, chiếm trên 50% thành viên Ban lãnh đạo hoặc nắm giữ các vị trí quản lý trọng yếu có quyền quyết định cao nhất. |
| Nhượng vốn, vay/cho vay, mượn/cho mượn với cá nhân điều hành, kiểm soát | Doanh nghiệp có phát sinh giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp chủ sở hữu; hoặc vay, cho vay, mượn, cho mượn ít nhất 10% vốn góp chủ sở hữu, với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc cá nhân có quan hệ gia đình, huyết thống với người điều hành, kiểm soát. |
Có thể thấy, nhóm quan hệ này không chỉ dừng ở việc “ai sở hữu bao nhiêu vốn” mà mở rộng sang “ai có quyền chi phối quyết định”. Đặc biệt, quy định mới về mượn, cho mượn buộc doanh nghiệp phải rà soát cả các giao dịch phi chính thức với cá nhân điều hành, kiểm soát, vốn trước đây dễ bị bỏ qua vì không mang hình thức hợp đồng vay.
Nhóm 3: Quan hệ phụ thuộc về kinh tế và tài sản vô hình
Ngoài quan hệ sở hữu và kiểm soát trực tiếp, Nghị định 255/2026/NĐ-CP tiếp tục ghi nhận quan hệ liên kết phát sinh từ mức độ phụ thuộc kinh tế giữa hai doanh nghiệp, dù không có tỷ lệ vốn góp nào giữa hai bên. Bảng dưới đây tổng hợp các trường hợp điển hình:
| Trường hợp | Mô tả |
| Phụ thuộc nguồn nguyên vật liệu hoặc đầu ra | Doanh nghiệp cung cấp trên 50% nguyên liệu đầu vào hoặc tiêu thụ trên 50% sản phẩm đầu ra cho doanh nghiệp khác. |
| Sử nghiệp cung cấp trên 50% nguyên liệu đầu vào hoặc tiêu thụ trên 50% sản phẩm đầu ra cho doanh nghiệp khác. | Hai doanh nghiệp cùng sử dụng tài sản vô hình (thương hiệu, công nghệ, bí quyết…) và có bên thứ ba liên kết kiểm soát hoặc quyết định việc sử dụng. |
| Phụ thuộc chi phí dịch vụ | Doanh nghiệp nhận trên 50% chi phí dịch vụ (IT, kế toán, quản lý…) từ bên cung cấp dịch vụ liên kết. |
Nhóm quan hệ này thường bị doanh nghiệp bỏ sót nhất, vì không có dấu hiệu sở hữu vốn hay nhân sự chung. Tuy nhiên, khi một doanh nghiệp phụ thuộc trên 50% vào nguồn cung, đầu ra, tài sản vô hình hoặc chi phí dịch vụ từ một đối tác, cơ quan thuế vẫn có căn cứ xác định đây là quan hệ liên kết và yêu cầu kê khai đầy đủ.
Nhóm 4: Quan hệ bản chất và trường hợp loại trừ
Bên cạnh các trường hợp định lượng nêu trên, Nghị định vẫn giữ điều khoản mở cho phép cơ quan thuế xác định quan hệ liên kết dựa trên bản chất kiểm soát hoặc ảnh hưởng thực tế đến hoạt động sản xuất kinh doanh và định giá giao dịch, nhằm chống chuyển giá hiệu quả, kể cả khi tỷ lệ vốn góp không đạt ngưỡng 25% nhưng có thỏa thuận mang tính chi phối thực chất.
Đồng thời, Nghị định 255/2026/NĐ-CP bổ sung một trường hợp loại trừ mới (không áp dụng quan hệ liên kết) đối với chủ nợ, bên bảo lãnh.
Hai điểm sửa đổi, bổ sung quan trọng nhất về quan hệ liên kết
Bổ sung mối quan hệ liên kết qua việc mượn, cho mượn
Trước đây, tại điểm l khoản 2 Điều 5 Nghị định 132/2020/NĐ-CP, quy định chỉ ghi nhận quan hệ liên kết phát sinh qua giao dịch vay, cho vay, chưa bao quát trường hợp mượn, cho mượn. Điều này tạo kẽ hở để một số doanh nghiệp “lách” quan hệ liên kết bằng cách chuyển hình thức pháp lý của giao dịch vay tài chính thành hợp đồng mượn tài sản, mượn vốn.
Điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nội dung này như sau (giữ nguyên văn quy định pháp luật):
Doanh nghiệp có phát sinh các giao dịch nhượng, nhận chuyển nhượng vốn góp ít nhất 25% vốn góp của chủ sở hữu của doanh nghiệp trong kỳ tính thuế; vay, cho vay, mượn, cho mượn ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc với cá nhân thuộc một trong các mối quan hệ theo quy định tại điểm g khoản này.
Trước đây chưa có quy định về mối quan hệ liên kết giữa doanh nghiệp với cá nhân điều hành, kiểm soát thông qua việc mượn, cho mượn. Việc bổ sung này nhằm khắc phục vướng mắc phát sinh trong thực tiễn, bảo đảm việc xác định quan hệ liên kết đầy đủ, phản ánh đúng bản chất giao dịch và nâng cao hiệu quả quản lý thuế, ngăn ngừa việc lợi dụng cách diễn đạt hợp đồng để chuyển dịch bản chất giao dịch vay tài chính thành hợp đồng mượn, cho mượn.
Bổ sung trường hợp không áp dụng quan hệ liên kết đối với tổ chức xử lý nợ 100% vốn nhà nước
Điểm d.3 khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP bổ sung quy định loại trừ (giữ nguyên văn quy định pháp luật):
Chủ nợ, bên bảo lãnh là tổ chức do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ có chức năng mua, bán, xử lý nợ không tham gia trực tiếp, gián tiếp điều hành, kiểm soát góp vốn, đầu tư vào doanh nghiệp bên nợ hoặc doanh nghiệp được bảo lãnh theo quy định tại điểm a và điểm c khoản này.
Trước đây, quy định này chưa tồn tại. Việc bổ sung nhằm bảo đảm phù hợp với thực tiễn hoạt động của các tổ chức xử lý nợ do Nhà nước sở hữu 100% vốn, đồng thời tuân theo đúng nguyên tắc, bản chất về các bên có quan hệ liên kết, tránh việc các quan hệ chủ nợ/bên bảo lãnh mang tính hành chính, không có yếu tố chi phối thực chất, bị xác định nhầm thành quan hệ liên kết.
Xem thêm: Điểm mới Nghị định 255/2026/NĐ-CP về giao dịch liên kết.
04 nhóm giao dịch chính cấu thành giao dịch liên kết theo Nghị định 255

04 nhóm giao dịch chính cấu thành giao dịch liên kết theo Nghị định 255:
- Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng hàng hóa, cung cấp dịch vụ.
- Vay, cho vay, dịch vụ tài chính, đảm bảo tài chính và các công cụ tài chính khác.
- Mua, bán, trao đổi, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn, chuyển giao, chuyển nhượng tài sản hữu hình, tài sản vô hình.
- Thỏa thuận mua, bán, sử dụng chung nguồn lực như tài sản, vốn, lao động, chia sẻ chi phí giữa các bên có quan hệ liên kết.
Lưu ý quan trọng trong cách xác định doanh nghiệp có giao dịch liên kết
Nếu doanh nghiệp chỉ có quan hệ liên kết nhưng trong kỳ tính thuế không phát sinh bất kỳ giao dịch mua bán, vay mượn, chuyển nhượng hay dùng chung nguồn lực nào với bên đó, thì doanh nghiệp chưa có giao dịch liên kết và chưa phát sinh nghĩa vụ kê khai Phụ lục giao dịch liên kết.
Ngược lại, nếu doanh nghiệp thực hiện một giao dịch mua bán, cho vay, mượn tài sản… nhưng đối tác giao dịch không thuộc bất kỳ trường hợp nào trong 12 hình thức quan hệ liên kết tại Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, thì đây chỉ là giao dịch thông thường giữa các bên độc lập, không phải giao dịch liên kết.
Nói cách khác, một doanh nghiệp chỉ được xác định là có phát sinh giao dịch liên kết khi đồng thời thỏa mãn hai điều kiện:
- Có quan hệ liên kết theo một trong 12 hình thức quy định tại Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP và;
- Thực hiện ít nhất một trong 04 nhóm giao dịch chính cấu thành giao dịch liên kết với chính bên có quan hệ liên kết đó.
Nghĩa vụ kê khai Phụ lục theo Nghị định 255/2026/NĐ-CP

Căn cứ Điều 18 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, người nộp thuế có phát sinh giao dịch liên kết có trách nhiệm kê khai thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên kết theo các Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định, nộp cùng Tờ khai quyết toán thuế TNDN hàng năm.
Trên thực tế áp dụng, các giao dịch phải kê khai chi tiết trên Phụ lục I thường được phân theo 06 nhóm:
- Mua hoặc bán hàng hóa hình thành tài sản cố định: Kê khai giá trị mua vào hoặc bán ra trong kỳ.
- Mua hoặc bán hàng hóa không hình thành tài sản cố định: Kê khai giá trị mua vào hoặc bán ra trong kỳ.
- Sử dụng hoặc cung cấp dịch vụ: Dịch vụ nghiên cứu phát triển; dịch vụ quảng cáo, tiếp thị; dịch vụ quản lý kinh doanh, tư vấn và đào tạo.
- Tiền bản quyền và các khoản tương tự.
- Lãi vay.
- Cung cấp và sử dụng dịch vụ khác: Nhóm các giao dịch không thuộc các loại trên, ví dụ: thu nhập khác phát sinh từ xóa nợ, hoặc điều chỉnh giảm công nợ giữa các bên liên kết.
Lưu ý quan trọng: Nghĩa vụ kê khai Phụ lục I là bước bắt buộc, hoàn toàn khác với nghĩa vụ lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết. Một doanh nghiệp có thể vẫn phải kê khai Phụ lục I nhưng được miễn lập bộ hồ sơ xác định giá nếu đáp ứng điều kiện miễn trừ.
Trách nhiệm lập Hồ sơ xác định giá và ngưỡng miễn trừ mới
Ngoài kê khai Phụ lục, doanh nghiệp có GDLK còn có trách nhiệm chuẩn bị Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết, gồm:
- Hồ sơ Quốc gia (Local File): Chi tiết về doanh nghiệp, giao dịch liên kết đã phát sinh, phân tích chức năng và so sánh.
- Hồ sơ Toàn cầu (Master File): Thông tin tổng quan về tập đoàn đa quốc gia.
- Báo cáo lợi nhuận liên quốc gia (CbCR): Dành cho tập đoàn lớn theo ngưỡng doanh thu hợp nhất quy định.
Điểm mới về ngưỡng miễn lập Hồ sơ xác định giá:
Theo quy định trước đây tại Nghị định 132/2020/NĐ-CP, doanh nghiệp được miễn lập Hồ sơ xác định giá nếu tổng doanh thu phát sinh trong kỳ tính thuế dưới 50 tỷ đồng và tổng giá trị giao dịch liên kết trong kỳ dưới 30 tỷ đồng (cùng một số điều kiện khác về APA hoặc rủi ro chuyển giá thấp).
Theo quy định mới tại điểm c khoản 2 Điều 20 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, ngưỡng doanh thu đối với trường hợp người nộp thuế được miễn lập Hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết đã được điều chỉnh tăng lên mức dưới 500 tỷ đồng, đồng thời bỏ điều kiện thực hiện với chức năng đơn giản. Đây là thay đổi đáng chú ý, mở rộng đáng kể phạm vi doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp vừa và lớn có giao dịch liên kết không phức tạp) được giảm gánh nặng tuân thủ về hồ sơ.
Dù được miễn lập Hồ sơ, doanh nghiệp vẫn phải:
- Kê khai đầy đủ thông tin về giao dịch liên kết vào Phụ lục kèm theo Tờ khai quyết toán TNDN.
- Tuân thủ nguyên tắc giao dịch độc lập (giá giao dịch phải nằm trong khoảng giá thị trường).
- Đặc biệt lưu ý giới hạn chi phí lãi vay được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế.
Xem thêm: Miễn lập hồ sơ xác định giá giao dịch liên kết theo Nghị định 255.
Hậu quả pháp lý khi xác định sai hoặc không kê khai
Việc không xác định đúng doanh nghiệp có giao dịch liên kết không chỉ là thiếu sót thủ tục hành chính, mà còn kéo theo hệ quả pháp lý nghiêm trọng:
- Rủi ro ấn định thuế: Cơ quan thuế có quyền ấn định lại giá giao dịch liên kết theo nguyên tắc giao dịch độc lập, làm tăng thu nhập chịu thuế TNDN, đồng thời truy thu phần thuế chênh lệch kèm lãi chậm nộp.
- Xử phạt vi phạm hành chính: theo Luật Quản lý thuế, doanh nghiệp có thể bị phạt do khai sai dẫn đến thiếu số thuế phải nộp, phạt do không kê khai hoặc kê khai không đầy đủ, và phạt do không lập hoặc không cung cấp được Hồ sơ xác định giá khi cơ quan thuế yêu cầu thanh tra.
- Tác động đến uy tín và quản trị: Ảnh hưởng đến khả năng gọi vốn, M&A hoặc hợp tác với đối tác quốc tế khi doanh nghiệp có lịch sử bị ấn định thuế, xử phạt liên quan đến giao dịch liên kết.
Kết luận
Nghị định 255/2026/NĐ-CP đã tái cấu trúc toàn diện cách xác định doanh nghiệp có giao dịch liên kết, mở rộng từ 10 lên 12 hình thức quan hệ liên kết, bổ sung giao dịch mượn/cho mượn, luật hóa thêm thỏa thuận dùng chung nguồn lực, đồng thời nâng ngưỡng miễn lập hồ sơ xác định giá lên 500 tỷ đồng. Những thay đổi này vừa mở ra cơ hội giảm gánh nặng tuân thủ cho một số doanh nghiệp, vừa siết chặt hơn ở các giao dịch trước đây dễ bị bỏ sót, đặc biệt là giao dịch với cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp.
Điều quan trọng cần ghi nhớ: doanh nghiệp chỉ phát sinh nghĩa vụ kê khai khi đồng thời có quan hệ liên kết và thực hiện giao dịch thuộc một trong bốn nhóm giao dịch liên kết. Doanh nghiệp nên chủ động tham khảo dịch vụ tư vấn giao dịch liên kết chuyên nghiệp để được rà soát quan hệ liên kết, xác định đúng nghĩa vụ kê khai và chuẩn bị hồ sơ xác định giá phù hợp với quy định tại Nghị định 255/2026/NĐ-CP, tránh rủi ro bị ấn định thuế, truy thu và xử phạt khi cơ quan thuế thanh tra.
Liên hệ MAN – Master Accountant Network để được hỗ trợ và tư vấn miễn phí!
Thông tin liên hệ MAN – Master Accountant Network
- Địa chỉ: Số 19A, Đường 43, Phường Tân Thuận, TP. Hồ Chí Minh
- Mobile/Zalo: 0903 963 163 – 0903 428 622
- Email: man@man.net.vn
- Google Business Profile: Xem Google Business Profile của MAN – Master Accountant Network
- LinkedIn Founder: Xem hồ sơ LinkedIn của chuyên gia Lê Hoàng Tuyên
Phụ trách sản xuất và kiểm duyệt nội dung chuyên môn bởi: Ông Lê Hoàng Tuyên – Sáng lập viên (Founder) & CEO MAN – Master Accountant Network. Ông là Kiểm toán viên CPA Việt Nam với hơn 30 năm kinh nghiệm sâu sắc trong lĩnh vực Kế toán, Kiểm toán, Thuế và Tư vấn Pháp lý doanh nghiệp.
Câu hỏi thường gặp về cách xác định doanh nghiệp có giao dịch liên kết
Nghị định 255/2026/NĐ-CP có hiệu lực và áp dụng từ khi nào?
Nghị định có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2026 và áp dụng từ kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2026, thay thế Nghị định 132/2020/NĐ-CP và Nghị định 20/2025/NĐ-CP.
Giao dịch mượn, cho mượn vốn với người thân của người điều hành doanh nghiệp có bị coi là giao dịch liên kết không?
Có, nếu giá trị giao dịch mượn, cho mượn đạt ít nhất 10% vốn góp của chủ sở hữu tại thời điểm phát sinh giao dịch trong kỳ tính thuế, và bên còn lại là cá nhân điều hành, kiểm soát doanh nghiệp hoặc cá nhân có quan hệ theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 5 Nghị định 255/2026/NĐ-CP.
Khoản chi hộ tiền vé máy bay cho chuyên gia tập đoàn có phải kê khai là chi phí dịch vụ không?
Không. Đây thuộc nhóm giao dịch chi hộ, được kê khai riêng theo bản chất thu chi hộ, không ghi nhận như một khoản chi phí dịch vụ thông thường trên Phụ lục I, miễn là doanh nghiệp chỉ hoàn trả đúng số tiền đã chi hộ mà không cộng thêm phần lợi nhuận.
Doanh nghiệp có doanh thu dưới 500 tỷ đồng có đương nhiên được miễn mọi nghĩa vụ liên quan đến giao dịch liên kết không?
Không. Doanh nghiệp có thể được miễn lập Hồ sơ xác định giá GDLK nếu đáp ứng điều kiện tại điểm c khoản 2 Điều 20 Nghị định 255/2026/NĐ-CP, nhưng vẫn phải kê khai đầy đủ thông tin về quan hệ liên kết và giao dịch liên kết theo Phụ lục kèm theo Tờ khai quyết toán thuế TNDN, và vẫn phải tuân thủ nguyên tắc giao dịch độc lập.



